Người bố nói một câu xúc phạm, người mẹ treo cổ tự vẫn và cô con gái 10 tuổi như ném trả tiếng nói lại cho loài người, cô câm hẳn và bỏ nhà đi lang thang cho đến ngày thành thiếu nữ rồi chết trong một tình yêu ngổn ngang. Gió lẻ là gió gì cũng không ai biết, gió năm ấy, năm kia hay năm nào cũng cũng không ai biết, cô gái như mang gió đi theo và thổi vào tất cả nơi nào, những ai cô gặp cái lạnh không thể lấp đầy của sự một mình trên thế gian. Hàng trăm, hàng ngàn chuyện đã xảy ra trên những ngày lang thang ấy được kể lại bằng giọng kể không đầu không cuối, tuỳ vào những liên tưởng bất chợt, như ký ức vậy, ký ức trở về đâu cần có đầu có đuôi ! Câu chuyện được kể không đơn tuyến, chính thủ pháp này đã khiến người đọc khó nắm bắt mạch chuyện từ đầu, thế nhưng một khi đã hiểu câu chuyện thì những ký ức, những mảng chuyện bất chợt này, như đứng độc lập và bản thân nó như một bài thơ ngắn đầy cảm xúc.
"Những toa tàu trượt qua tôi trong sớm mai, dằng dặc gương mặt người ẩn hiện trong ô cửa tối, trong những hành khách kia, có thể có người tôi thương nhớ đã lâu rồi. Cái khao khát gặp nhau đã không còn hình dáng của khao khát nữa, nỗi nhớ không còn nhận biết đó là nỗi nhớ, tình yêu xưa cũng không chắc tình yêu. Chỉ cháy lên ý nghĩ, được nhìn lại gương mặt, nụ cười, ánh mắt và tay tôi đan vào những ngón tay khô..."(Nghĩ trong lúc tàu đi qua)
"Những ngày lang thang trên đất lạ, với tấm bản đồ rách rã, đôi khi tôi phải dừng lại hỏi đường
Ông ơi, lối đi này dẫn tới đâu, cháu muốn tới những thung sâu
Những bãi cỏ buổi sáng từng là chợ, họ bán mấy rau và tặng mấy hẹn hò
Ông già im lặng và ngón tay gầy quắt, vẽ cho tôi một con đường" (Hỏi đường)
Đọc Gió lẻ, tôi cứ hình dung Nguyễn Ngọc Tư như một mụ phụ thuỷ lần đầu nắm được sức mạnh của âm binh, chị tung bên này, hứng bên kia, hô phong, hoán vũ cái sức mạnh của ngôn từ mà chị đã bắt đầu nắm được. Chị không kể chuyện, nếu phải tóm tắt thì có thể kể câu chuyện trong ba dòng là xong (như tôi đã tóm tắt ở đầu bài), câu chuyện chỉ là cái cớ, để trong đó ngôn từ có thể biểu hiện được quyền lực rõ nhất của nó.
Và bất ngờ, chính ở chỗ này, chị đã chạm đến điều sâu xa nhất, cổ xưa nhất và cũng là căn bản, nền tảng nhất của văn minh loài người, đó là: Ngôn ngữ !
Không có ngôn ngữ, con người sẽ vẫn mãi là động vật hoang dã không hơn con mèo, con chó ta thấy hằng ngày. Kể từ khi có ngôn ngữ, con người bắt đầu có tư duy, và nhờ có tư duy con người đã có thể hiểu được những bước đi của Tạo hoá, thậm chí, đang âm mưu dần thay sự sáng tạo của tạo hoá ! Không có ngôn ngữ, con người không thể tư duy. Chúng chỉ có thể tư duy trong chiếc áo, lớp vỏ của ngôn ngữ. Và khi Descartes nói: "COGITO ERGO SUM - I think therefore I am - Tôi tư duy tức là tôi tồn tại" thì ta hiểu, ông không chỉ nói đến sức mạnh của tư duy mà còn là ý nghĩa nhân sinh của con người trong vũ trụ này.
Thế nhưng, kể từ khi có ngôn ngữ, con người cũng bắt đầu "tha hoá" và xa rời dần "bản thể" của mình. Đầu tiên là Lão Tử, cái chữ ĐẠO của ông đến bây giờ chúng ta vẫn không thể hiểu chính xác nó là cái gì, vì : "Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh". Tức nói ra là đã xa rời bản thể sự vật rồi.
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi giải điều này như sau: "Chân lý mà nhất là chân lý tối thượng, nó không phơi ra những đường, nếp, hình, khối... để cho giác quan chúng ta dễ dàng bám lấy. Thế nên thay vì giác quan, con người phải dùng đến một thứ siêu giác quan là lương năng để mặc khải chân lý. Mà lương năng chỉ thật sự sáng lên khi giác quan cùn lụt đi. Cho nên, phải làm ngược lại với quy trình thông tục của sự suy nghiệm, phải bắt cái tâm của mình, giác quan của mình trở nên tối tăm, ngu độn mới may ra có thể tiếp cận được chân lý"( Nguyễn Huệ Chi-Tư duy phương Đông nhìn dưới ánh sáng học thuyết Einstein).
Để hiểu cái ĐẠO của vũ trụ, Lão Tử bảo phải lìa ngôn ngữ, nhà Phật thì bảo phải lìa tri kiến (tức hiểu biết, kiến thức), dứt niệm, bặt tư duy (tức cũng lìa bỏ ngôn ngữ).
Liệu có thật vậy không ? Trong gió lẻ Nguyễn Ngọc Tư cho nhân vật tiếp cận điều đó bằng cách của mình.
Trong "Gió lẻ", nhân vật chính (đến hết chuyện ta vẫn không biết cô tên gì ngoài cách gọi Cô gái câm ! Thế giới hoang dã cũng vậy, ở đó không có tên!)) không câm bẩm sinh từ bé mà cô đã ném trả tiếng nói lại cho loài người, cô sống và không cần đến tiếng nói, ngôn ngữ, và sự diễn đạt nữa, thậm chí cô buồn nôn với tất cả những lời nói âu yếm, ngọt ngào. Trong cái thế giới phi ngôn ngữ ấy, phi cái khái niệm trung gian là ngôn ngữ ấy, cô gái câm như hoàn toàn hoà vào thiên nhiên và cô có thể nghe và hiểu được tiếng gió, tiếng của cỏ cây, của mây trời và của những con chim, con chó, con mèo cô gặp hằng ngày.
Cuộc trốn chạy vì nỗi sợ hãi cuộc sống loài người của cô gái ngày càng bị đẩy đi xa hơn; những cưu mang, chở che, dịu dàng nhất lại ẩn giấu những cướp đoạt phi nhân nhất. Cô gái co mình lại đến độ cảm giác được máu chảy trong con người mình, một "khả năng kỳ dị" , nhưng thật ra đó là tín hiệu đầu tiên tác giả muốn nhắn gởi: "Tại sao người ta không nhìn thấy mình khi mình còn sống ?".
Mà "Nhìn thấy mình", giống như thoát hồn nhìn lại mình của nhiều pháp thiền, hoặc khách quan với các ý nghĩ của chính mình há không phải là mục tiêu tối hậu của Phật giáo đấy ư ? "Gió lẻ" không chỉ là câu chuyện thương tâm, như nhiều người cảm nhận mà ở đó thực sự có một tầm tư tưởng về nhân sinh thật lớn như đã được chạm đến.
Hẳn chúng ta còn nhờ tiểu thuyết "Barie" của nhà văn Bungary Paven Vêginốp, trong đó Ðôrôtêa, nhân vật chính, là một cô gái có khả năng tự bay lên và đêm đêm cô vẫn bay lượn trên bầu trời Xophia tuyệt đẹp. So với truyện này, "Gió lẻ" của Nguyễn Ngọc Tư, hay hơn nhiều. Nó hay không chỉ vì một cú pháp thấm đẫm chất thơ mà còn là một vấn đề, có thể Nguyễn Ngọc Tư chỉ vô tình, hoặc bằng trực cảm của một nhà văn, chị đã vô tình chạm đến điểm khởi sinh và cũng là điểm cuối cùng mà văn minh loài người khởi đầu và cũng có thể là đích sẽ đến.
Dường như, tất cả đã thật chín, để đến một lúc nhân loại để lên mặt bàn, công và tội của ngôn ngữ.
Và, không thể nói về ngôn ngữ mà không là nhà phù thủy về chữ nghĩa.
Hồ Trung Tú
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét