Vụ án bầu Kiên: Kiến nghị giải thích luật khẩn cấp
Có 10 luật sư trong vụ án bầu Kiên đã cùng ký một bản kiến nghị khẩn cấp gửi Ủy Ban thường vụ Quốc Hội đề nghị giải thích điều 106 Luật các TCTD.
Bản kiến nghị nêu ngày 29/4/2014, các luật sư Bùi Quang
Nghiêm, Lưu Văn Tám, Vũ Xuân Nam, Hoàng Đôn Hùng đã có bản kiến nghị gửi Quốc Hội
đề nghị giám sát vụ án Nguyễn Đức kiên và vụ án Huỳnh Thị Huyền Như.
Trong đó, các luật sư đề nghị Ủy Ban thường vụ Quốc Hội xem xét và có ý kiến về tính hợp pháp của công văn giải thích luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong vụ bầu Kiên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc Hội chính thức có giải thích về điều 106 Luật các Tổ chức tín dụng (Luật các TCTD) năm 2010. Nay 10 luật sư trong vụ án lại tiếp tục có kiến nghị gửi Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
'Tôi không thiếu tiền để phải chiếm đoạt tiền của nhà
khác trong bất kỳ trường hợp nào' - bầu Kiên nói trước tòa.
Công văn của NHNN là căn cứ buộc tội
Điều 106 Luật các TCTD năm 2010 (có hiệu lực từ 1/1/2011) quy định “Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.
Ngày 17/5/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có công văn số 350/NHNN-TTGSNH do Phó chánh thanh tra giám sát Đặng Văn Thảo ký trả lời cơ quan điều tra: Ngân hàng ACB được thực hiện nghiệp vụ ủy thác nhưng việc ủy thác cho cá nhân khi chưa có hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước là vi phạm Điều 106 Luật các TCTD, tuy nhiên, chưa có chế tài xử lý với hoạt động ủy thác khi chưa có hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Trên cơ sở công văn 350 trên, Kết luận điều tra và Cáo trạng xác định ông Nguyễn Đức Kiên cùng các cá nhân nguyên thường trực Hội đồng quản trị ACB đã phạm tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng khi ủy thác cho nhân viên gửi tiền vào Vietinbank, sau đó bị Huyền Như chiếm đoạt 718 tỷ.
Ai có quyền giải thích luật?
Trả lời câu hỏi của luật sư liệu ông Đặng Văn Thảo có được ủy quyền của Thống đốc để đại diện cho NHNN ký công văn 350 hay không, ông Thảo cho rằng mình được Thống đốc ủy quyền hợp lệ ký các văn bản theo chức năng nhiệm vụ. Luật sư hỏi chức năng nhiệm vụ của Thanh tra NHNN được quy định như thế nào, ông Thảo không trả lời cụ thể câu hỏi này.
Theo các luật sư, Thanh tra NHNN chỉ có chức năng phát hiện và xử lý vi phạm, không hề có chức năng hướng dẫn, giải thích văn bản pháp luật. Như vậy, liệu ông Thảo ký văn bản này có đúng thẩm quyền?
Luật các TCTD năm 2010, có hiệu lực từ 01/01/2011, điều 106 quy định hoạt động ủy
thác của các ngân hàng thương mại thực hiện “theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”
đã được Ngân hàng Nhà nước giải thích là ngân hàng thương mại thực hiện ủy thác
khi chưa có hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước là vi phạm Luật các TCTD. Điều này
có nghĩa cụm từ “theo quy định của Ngân hàng Nhà nước” được hiểu là “chỉ được
thực hiện sau khi có hướng dẫn”. Như vậy, công văn 350 thực chất là công văn giải
thích luật, một việc thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc Hội theo quy định
của điều 85 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đáng lưu ý, Công văn 350 trả lời Cơ quan điều tra được đóng dấu mật cũng không được gửi cho các ngân hàng thương mại.
Không có hướng dẫn thì ngừng kinh doanh?
Luật các TCTD có hiệu lực từ 1/1/2011, ngày 08/3/2012, Ngân hàng Nhà nước mới có Thông tư số 04 hướng dẫn về nghiệp vụ ủy thác, dù Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định nếu Luật cần có văn bản hướng dẫn thì văn bản đó phải được ban hành và có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật.
Trước khi ban hành Thông tư 04, Ngân hàng Nhà nước cũng không hề có bất cứ văn bản nào cảnh báo, nhắc nhở các ngân hàng thương mại về hoạt động ủy thác.
Theo các luật sư, nếu cách hiểu pháp luật đúng như Ngân hàng Nhà nước nêu trong công văn 350, đời sống của nhân dân, hoạt động của doanh nghiệp phải dừng lại khi hàng loạt luật chưa có văn bản hướng dẫn, chậm hướng dẫn. Hiện tình trạng chậm ban hành hướng dẫn luật đã ở mức phổ biến ở nhiều Bộ, ngành.
Trên thực tế, một số luật sư cho biết, công văn 350 chỉ là ý kiến của Ngân hàng Nhà nước sau khi xảy ra vụ án Huyền Như. Các luật sư có thể chứng minh có rất nhiều quy định khác trong ngành ngân hàng có nội dung tương tự thì Ngân hàng Nhà nước không áp dụng nguyên tắc như công văn 350.
Giải thích luật để tránh oan sai?
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên, nội dung công văn 350 được Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát, các luật sư hỏi rất nhiều. Ngân hàng Nhà nước từ chối trả lời hoặc trả lời không rõ ràng.
Phiên tòa chưa kết thúc, Hội đồng xét xử chưa quyết định, nhưng có thể thấy rõ công văn 350 đã là căn cứ để Cơ quan điều tra, Viện kiệm sát kết luận hành vi vi phạm của các cá nhân trong vụ án và sẽ tiếp tục được Tòa sử dụng để đưa ra quyết định về tội danh, hình phạt với các cá nhân bị truy tố.
Các luật sư nêu nếu không khẩn cấp xem xét tính hợp pháp của công văn 350, xem xét thẩm quyền giải thích luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; nếu Ủy Ban thường vụ Quốc Hội không có ngay giải thích chính chức về điều 106 Luật các TCTD, sẽ có nguy cơ xảy ra oan sai trong vụ án này.
Bản kiến nghị nhấn mạnh, trong bối cảnh đang thực hiện Hiến pháp mới năm 2013, trong đó có quy định mọi người có quyền tự do kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm, đây không chỉ là vấn đề của một vụ án, là cách hiểu một điều luật cụ thể, việc thừa nhận và áp dụng công văn 350 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ môi trường đầu tư, kinh doanh, thể hiện cách thức và quan điểm áp dụng pháp luật của Nhà nước.
Các luật sư đã ký bản kiến nghị gồm Bùi Quang Nghiêm, Lưu Văn Tám, Nguyễn Minh Tâm, Vũ Xuân Nam, Phùng Anh Tuấn, Dương Quốc Thành, Phạm Danh Tín, Kiều Vũ Thụy Uyên, Hoàng Đôn Hùng, Vũ Ngọc Chi.
Trong đó, các luật sư đề nghị Ủy Ban thường vụ Quốc Hội xem xét và có ý kiến về tính hợp pháp của công văn giải thích luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong vụ bầu Kiên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc Hội chính thức có giải thích về điều 106 Luật các Tổ chức tín dụng (Luật các TCTD) năm 2010. Nay 10 luật sư trong vụ án lại tiếp tục có kiến nghị gửi Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Công văn của NHNN là căn cứ buộc tội
Điều 106 Luật các TCTD năm 2010 (có hiệu lực từ 1/1/2011) quy định “Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.
Ngày 17/5/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có công văn số 350/NHNN-TTGSNH do Phó chánh thanh tra giám sát Đặng Văn Thảo ký trả lời cơ quan điều tra: Ngân hàng ACB được thực hiện nghiệp vụ ủy thác nhưng việc ủy thác cho cá nhân khi chưa có hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước là vi phạm Điều 106 Luật các TCTD, tuy nhiên, chưa có chế tài xử lý với hoạt động ủy thác khi chưa có hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Trên cơ sở công văn 350 trên, Kết luận điều tra và Cáo trạng xác định ông Nguyễn Đức Kiên cùng các cá nhân nguyên thường trực Hội đồng quản trị ACB đã phạm tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng khi ủy thác cho nhân viên gửi tiền vào Vietinbank, sau đó bị Huyền Như chiếm đoạt 718 tỷ.
Ai có quyền giải thích luật?
Trả lời câu hỏi của luật sư liệu ông Đặng Văn Thảo có được ủy quyền của Thống đốc để đại diện cho NHNN ký công văn 350 hay không, ông Thảo cho rằng mình được Thống đốc ủy quyền hợp lệ ký các văn bản theo chức năng nhiệm vụ. Luật sư hỏi chức năng nhiệm vụ của Thanh tra NHNN được quy định như thế nào, ông Thảo không trả lời cụ thể câu hỏi này.
Theo các luật sư, Thanh tra NHNN chỉ có chức năng phát hiện và xử lý vi phạm, không hề có chức năng hướng dẫn, giải thích văn bản pháp luật. Như vậy, liệu ông Thảo ký văn bản này có đúng thẩm quyền?
Đại diện NHNN tại
phiên tòa
|
Đáng lưu ý, Công văn 350 trả lời Cơ quan điều tra được đóng dấu mật cũng không được gửi cho các ngân hàng thương mại.
Không có hướng dẫn thì ngừng kinh doanh?
Luật các TCTD có hiệu lực từ 1/1/2011, ngày 08/3/2012, Ngân hàng Nhà nước mới có Thông tư số 04 hướng dẫn về nghiệp vụ ủy thác, dù Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định nếu Luật cần có văn bản hướng dẫn thì văn bản đó phải được ban hành và có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật.
Trước khi ban hành Thông tư 04, Ngân hàng Nhà nước cũng không hề có bất cứ văn bản nào cảnh báo, nhắc nhở các ngân hàng thương mại về hoạt động ủy thác.
Theo các luật sư, nếu cách hiểu pháp luật đúng như Ngân hàng Nhà nước nêu trong công văn 350, đời sống của nhân dân, hoạt động của doanh nghiệp phải dừng lại khi hàng loạt luật chưa có văn bản hướng dẫn, chậm hướng dẫn. Hiện tình trạng chậm ban hành hướng dẫn luật đã ở mức phổ biến ở nhiều Bộ, ngành.
Trên thực tế, một số luật sư cho biết, công văn 350 chỉ là ý kiến của Ngân hàng Nhà nước sau khi xảy ra vụ án Huyền Như. Các luật sư có thể chứng minh có rất nhiều quy định khác trong ngành ngân hàng có nội dung tương tự thì Ngân hàng Nhà nước không áp dụng nguyên tắc như công văn 350.
Giải thích luật để tránh oan sai?
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên, nội dung công văn 350 được Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát, các luật sư hỏi rất nhiều. Ngân hàng Nhà nước từ chối trả lời hoặc trả lời không rõ ràng.
Phiên tòa chưa kết thúc, Hội đồng xét xử chưa quyết định, nhưng có thể thấy rõ công văn 350 đã là căn cứ để Cơ quan điều tra, Viện kiệm sát kết luận hành vi vi phạm của các cá nhân trong vụ án và sẽ tiếp tục được Tòa sử dụng để đưa ra quyết định về tội danh, hình phạt với các cá nhân bị truy tố.
Các luật sư nêu nếu không khẩn cấp xem xét tính hợp pháp của công văn 350, xem xét thẩm quyền giải thích luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; nếu Ủy Ban thường vụ Quốc Hội không có ngay giải thích chính chức về điều 106 Luật các TCTD, sẽ có nguy cơ xảy ra oan sai trong vụ án này.
Bản kiến nghị nhấn mạnh, trong bối cảnh đang thực hiện Hiến pháp mới năm 2013, trong đó có quy định mọi người có quyền tự do kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm, đây không chỉ là vấn đề của một vụ án, là cách hiểu một điều luật cụ thể, việc thừa nhận và áp dụng công văn 350 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ môi trường đầu tư, kinh doanh, thể hiện cách thức và quan điểm áp dụng pháp luật của Nhà nước.
Các luật sư đã ký bản kiến nghị gồm Bùi Quang Nghiêm, Lưu Văn Tám, Nguyễn Minh Tâm, Vũ Xuân Nam, Phùng Anh Tuấn, Dương Quốc Thành, Phạm Danh Tín, Kiều Vũ Thụy Uyên, Hoàng Đôn Hùng, Vũ Ngọc Chi.
Hoàng Tú
Theo VTC News
“Giải mã” 22 câu hỏi về vụ án ‘bầu” Kiên từ góc độ Luật sư
Trong vụ án “bầu” Kiên có rất nhiều câu hỏi nảy sinh mà phần lớn chưa được trả lời hoặc chưa có được lời giải thỏa đáng. Cảm thấy mình như cũng có phần “mắc nợ”, tôi đưa ra quan điểm của mình qua các câu (tự) hỏi để quý vị có thể tham khảo:
1.Tài chính là gì?
Tài chính là
phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức
giá trị; phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền
tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi
điều kiện nhất định.
2. Ngành kinh doanh tài chính theo quy định của pháp
luật Việt Nam là gì?
Rất tiếc!
Hiện nay chưa có quy định cụ thể khẳng định thế nào là kinh doanh tài chính.
3. Sau khi đã thành lập, doanh nghiệp (DN) có phải
xin “giấy phép con” cho hoạt động kinh doanh tài chính không?
Đến thời điểm
này chưa có quy định buộc doanh nghiệp DN phải xin "giấy phép con"
cho hoạt động kinh doanh tài chính sau khi thành lập.
4. Nguyên lý Kinh doanh những gì pháp luật không cấm
hay kinh doanh những gì pháp luật cho phép?
Kinh doanh
những gì pháp luật không cấm.
5. DN có quyền góp vốn, mua cổ phần hay không?
Điều 13, Luật
DN khẳng định DN có quyền góp vốn, mua cổ phần.
6. Góp vốn, mua cổ phần có phải là kinh doanh tài
chính hay không?
Hiện nay chưa
có quy định cụ thể về kinh doanh tài chính nên tạm thời góp vốn mua cổ phần
được xem là quyền trong hoạt động của DN.
7. Hợp đồng giữa DN với cá nhân có phù hợp với pháp
luật không?
Không có điều
luật nào cấm DN và cá nhân ký kết hợp đồng.
8. Thế nào là hợp đồng trá hình?
Điều 129,
BLDS chỉ quy định về hợp đồng giả tạo nhưng không có quy định về hợp đồng trá
hình.
9. Khi nào thì phát sinh thuế thu nhập DN?
Thuế thu nhập
DN chỉ phát sinh khi doanh nghiệp làm ăn có lãi.
10. Hành vi nào được xác định là trốn thuế?
Theo quy định
tại Điều 108, Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 thì trốn
thuế, gian lận thuế là:
1. Không nộp
hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau chín
mươi ngày…
2. Không ghi
chép trong sổ kế toán ….
3. Không xuất
hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hoá đơn bán hàng thấp
hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã bán…
4. Sử dụng
hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên liệu đầu vào …
11. Thế chấp cổ phần có làm chấm dứt quyền sở hữu?
Thế chấp cổ
phần làm hạn chế một số quyền của người có cổ phần thế chấp, nhưng không đồng
nghĩa với việc chấm dứt quyền sở hữu.
12. Những yếu tố quyết định trong một vụ án lừa đảo
là gì?
Hai yếu tố
quyết định là: Thủ đoạn gian dối và chiếm đoạt tài sản của người khác, ngoài ra
thì nhất thiết phải có người bị hại.
13. Tội lừa đảo có nhất thiết phải có đơn tố cáo của
người bị hại?
Không nhất
thiết, nhưng nếu không có đơn tố cáo của người bị hại thì cơ quan nhà nước
không thể biết được để điều tra.
14. Người bị lừa không thừa nhận mình bị lừa thì có
cấu thành tội “Lừa đảo không” ?
Người bị lừa
không thừa nhận mình bị lừa có nghĩa là họ tự nguyện giao tài sản của mình thì
làm sao có yếu tố dùng thủ đoạn gian dối ở đây.
15. Nhân dân, dân doanh có nghĩa vụ thực hiện chính
sách quản lý kinh tế vĩ mô?
Chính sách
quản lý kinh tế vĩ mô là những chính sách mang tính chiến lược do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền vạch ra để phát triển kinh tế theo định hướng, người dân và
tổ chức kinh tế tư nhân không đủ thẩm quyền, tài lực và không có nghĩa vụ phải
quản lý kinh tế vĩ mô.
16. Thiệt hại nghiêm trọng về tài sản trong DN dân
doanh do chính chủ DN gây ra có được coi là tình tiết “gây thiệt hại nghiêm
trọng” hay không?
Mọi sự xâm
phạm có yếu tố hình sự, đều phải gắn liền với việc xâm phạm quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác. Nếu xâm phạm quyền lợi ích của chính mình mà tội phạm
thì... ca sỹ Quang Lê đã phải đi tù nhiều lần vì hành vi “Đập vỡ cây đàn” (?)
17. Nguyên đơn trong vụ án không thừa nhận mình có
thiệt hại thì sẽ như thế nào?
Điều 52,
BLTTHS thì “Nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức
bị thiệt hại ….” Như vậy, nếu nguyên đơn không thừa nhận có thiệt hại và không
có đơn yêu cầu thiệt hại thì không có căn cứ để xác định tư cách nguyên đơn
trong vụ án hình sự.
18. Có thể tạm đình chỉ (dẫn đến tách vụ án) trong
giai đoạn xét xử hay không?
Điều 39, Điều
117, BLTTHS không quy định về thẩm quyền tách vụ án của Tòa án
19. Bị cáo tranh luận với kiểm sát viên có đúng luật?
Điểm g, khoản
2, điều 50, BLTTHS quy định “bị cáo có quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại
phiên tòa”.
20. “Đường vòng tội lỗi” là gì?
Tra từ điển
Tiếng Việt không có. Bó tay.@!
21. Có khi nào xảy ra trường hợp những hành vi đơn lẻ
hợp pháp nhưng gộp những hành vi này thì lại trở thành phi pháp?
Không bao
giờ!
22. Bầu kiên có tội hay vô tội?
Tôi không trả
lời, quý vị tự đánh giá nhé!
Luật sư Trương
Anh Tú
(Theo Dân trí)
Theo tôi, các câu tự hỏi, tự trả lời quá ngắn gọn, chưa viện dẫn hết và đủ các quy định, khía cạnh pháp luật khác liên quan để có thể đi đến những "kết luận" chính xác hơn. Pháp luật doanh nghiệp thôi, chưa thể đủ để trở thành câu trả lời cho mọi câu hỏi. Cần lắng nghe thêm các ý tứ khác phản ánh đầy đủ, đúng đắn nhất từ bản chất của vụ việc này.
Sự "lách luật" ở khía cạnh này phản ánh việc chưa theo kịp cuộc sống của pháp luật thực định, thì khía cạnh khác cũng cần quan tâm: đâu là sự đóng góp cho nên kinh tế dân sinh? đâu là hành vi lũng đoạn, thao túng - dù xung quanh đó có đầy những ngôn từ hoa mỹ, chém gió vế trách nhiệm?
Cuộc sống của chúng ta, đã, đang và luôn sẽ bị ảnh hưởng bởi những vấn đề đó. Trách nhiệm công dân, chúng ta phải làm gì để góp phần hoàn thiện pháp luật? góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm? Điều cần làm, hiển nhiên là vì chúng ta và con cháu của chúng ta. Trách nhiệm của một công dân Việt Nam sẽ tự mách bảo ta cần đứng về lẽ phải, vì cái chung.
(Đỗ Hồng Thái)