Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

Điểm cực Đông của Tổ quốc

ĐẶT CHÂN ĐẾN ĐIỂM CỰC ĐÔNG CỦA ĐẤT NƯỚC
Phú Yên là một tỉnh Nam Trung bộ, thỉnh thoảng có việc tôi thường đi ngang qua bằng ôtô, tàu lửa hoặc dừng lại nghỉ chân lưu trú ngắn ngày và thực lòng để hiểu biết về đất - người ở đây tôi còn cạn lắm! Thế mà, tôi đã phải lòng đắm say quê hương này khi có dịp ở lại đây, thời gian không quá dài để cảm nhận “xứ Nẫu” đẹp giàu yên bình theo nghĩa rộng hơn.
Với tôi, một ước mơ thật giản đơn là được đặt chân đến các vùng miền của đât nước, cảnh trí ở đây có thể chỉ là sông biển núi đồi hồ vịnh… quen thuộc như ở quê nhà. Phú Yên cũng vậy, vùng đất này có bước chuyển mình ngoạn mục sau khi được chia tách từ tỉnh Phú Khánh, mà thành phố Tuy Hòa là trái tim tỉnh lỵ. Sau hơn 25 năm, đi lên từ hình ảnh phố thị loanh quanh dọc trục quốc lộ 1, Tuy Hòa đã có sự đổi thay với diện mạo mới của một thành phố năng động trên đà phát triển. Đô thị vươn xuống bờ biển vào tận phía Nam đến chân đèo Cả, ra hướng Bắc đến Hòa Đa. Những con đường rộng mở, phố mới hình thành trên vùng cát trắng khô khan. Phú Yên rất thuận lợi cho việc phát triển ngành du lịch mà tâm điểm là núi Nhạn với tháp Chàm cổ xưa còn nguyên vẹn dấu tích Vương quốc Chăm Pa. Đứng trên đỉnh núi, thực ra là ngọn đồi ở trung tâm thành phố phóng mắt về bốn phía. Ta bắt gặp núi Chóp Chài lừng lững ở phía Tây Bắc, khoảng 30km về phía Bắc ở huyện Tuy An có địa danh gành Đá Đĩa đang làm hồ sơ đề nghị lên UNESCO công nhận là một trong những di sản thiên nhiên của thế giới. Nhìn về phía Nam ta thấy dãy núi chắn ngang có hòn Đá Bia lúc nào cũng giăng mây, phía Đông là cửa sông Đà Rằng với cầu Hùng Vương bắc qua Khu công nghiệp Hòa Hiệp, sân bay Tuy Hòa vào tận dự án xây dựng Nhà máy lọc hóa dầu Vũng Rô. Không quá xa để chúng ta có thể tham quan mũi Điện (Đại Lãnh) điểm cực Đông của Tổ quốc, nơi đón bình minh sớm từ đất liền, gần đấy là địa danh lịch sử Vũng Rô với chiến công của Đoàn tàu Không số năm nào.
Được đặt chân đến điểm cực Đông là một thử thách không hề nhỏ, là nơi dành những ai có “máu” chinh phục khám phá mạo hiểm. Tôi và anh bạn đồng hành quyết tâm đi đến nơi cho bằng được, trong khi đó có khá nhiều anh chị em trong đoàn đều nghỉ chân ở dưới chân núi. Với hơn 600m đường đèo dốc, lại đi bộ dưới trời nắng gắt, nên mỗi người cầm một chai nước suối nhấm nháp vài miếng cho đỡ khát khô, vừa đi vừa nghỉ để kịp “thở ra”… Trước đây ai muốn chinh phục điểm cực Đông này thì phải thuê thuyền của ngư dân vòng qua eo biển sau đó ghé bờ và leo dốc. Hiện nay tỉnh đã đầu tư con đường đi lên xây bằng đá có bậc cấp, chính giữa có làn đường cho xe máy di chuyển nhưng do đường hẹp dốc cao nên chỉ có mấy anh em công tác Trạm hải đăng sử dụng còn khách tham quan thì phải gửi xe dưới chân núi. Cuối cùng sau nhiều lần nghỉ chân ở các đoạn, tôi và anh bạn đồng hành cũng đã nhìn thấy Trạm hải đăng trước mặt.
Trạm hải đăng Đại Lãnh còn có tên là “Mũi Điện”, ngọn hải đăng cao 26,5m được người Pháp xây dựng từ năm 1890, do chiến tranh có lúc trạm dừng hoạt động, đến tháng 8/1996, Nhà nước đã cho sửa chữa, tu bổ và ngọn hải đăng chính thức hoạt động trở lại vào năm 1997 với kiến trúc “Pháp”. Trong trạm có nuôi chó dữ, đánh hơi người từ xa nên chỏ sủa lên inh ỏi, ai yếu bóng vía không dám đặt chân qua cổng. Thật ra thì đàn chó đã được xích và có rào chắn để bảo vệ an toàn cho du khách lên tham quan ngọn đèn biển. Đứng trên nền cao hơn 110m so với mặt biển này, chúng ta có thể nhìn thấy bãi Môn phía Bắc với sóng nước lặng lờ, phía dưới chân Trạm hải đăng có mũi đá nhô ra biển, nơi đây có mốc tọa độ quốc gia được xác định là một trong điểm nhô ra trên đất liền đón bình minh sớm của Việt Nam, phía trong tỉnh Khánh Hòa còn có một điểm cực Đông nữa đó là Mũi Đôi.
Có quá nhiều điều để nói về cảnh đẹp hoang sơ nơi điểm cực Đông, nơi đây thật yên bình với hàng thông reo trước gió, biển và núi hòa quyện vào nhau tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình. Dù rất mệt nhưng tôi vẫn cố gắng leo lên cầu thang hình xoắn ốc vượt độ cao đến tận đỉnh ngọn hải đăng. Được phóng tầm mắt nhìn chung quanh biển trời, được đặt chân lên tận đỉnh ngọn hải đăng, tôi có quyền tự hào khoe với bạn bè là tôi đã đặt chân đến điểm cực Đông của Tổ quốc. Chia tay với anh Thắng công tác ở Trạm hải đăng bằng ly rượu ngâm với một rể cây thuốc Nam trên núi cho khỏe người, theo quảng cáo thì uống rượu này sẽ giải được mệt mỏi, bổ cho xương cốt… Anh còn cung cấp thêm thông tin: “Nếu anh chị có nhu cầu ở lại đêm hay ở lại trưa thì liên lạc trước qua điện thoại để Trạm chuẩn bị thức ăn, thức uống, bố trí phòng nghỉ với giá cả rất dễ chịu…!”. Còn thú vị gì hơn khi có một chỗ qua đêm ở Trạm hải đăng, con người và thiên nhiên sẽ hòa nhịp, sẽ được ngắm vầng trăng treo trên biển đêm, những ngọn đèn hắt sáng lung linh của đoàn thuyền ngư dân đánh bắt cá mực, thưởng thức món ăn chế biến từ hải sản tươi sống, được đón mặt trời mọc nhô lên trên chân trời xa... Những trải nghiệm thú vị lãng mạn một ngày đêm ở Mũi Điện - Đại Lãnh làm cho ta quên hết những mệt nhọc ưu phiền cuộc sống thường ngày.
Đến với Mũi Điện, nơi đón bình mình sớm từ đất liền để được cảm nhận tình yêu quê hương đất nước, người “xứ Nẫu” tự hào về vùng đất tiềm năng du lịch này, đây là điểm không thể thiếu trong tua du khách khi đến tham quan tỉnh Phú Yên. Nay mai dự án Nhà máy lọc hóa dầu Vũng Rô được xây dựng đưa vào sản xuất. Công trường sẽ nhộn nhịp, biến vùng đất “khô hạn” ở phía Nam thành phố Tuy Hòa thành lợi thế sản xuất ra sản phẩm hóa dầu và kéo theo bao dự án khác phát triển. Khu du lịch liên hoàn với: Bãi Môn biển xanh cát trắng, Mũi Điện thơ mộng, Vũng Rô lặng gió… sẽ hút khách sau giờ làm việc mệt nhọc, để nghỉ ngơi thư giản vào ngày nghỉ cuối tuần. Con đường từ thành phố Tuy Hòa vào phía Nam dọc bờ biển được xây dựng và đang hoàn thiện chạy ngang qua sân bay, khu công nghiệp lọc hóa dầu, đến Vũng Rô và vòng vèo trườn lên đèo Cả nối vào Quốc lộ 1 là cung đường có giá trị về kinh tế, an ninh - quốc phòng… Và nhất là tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến tham quan “xứ Nẫu” với nhiều danh lam thắng nổi tiếng, chắc chắn rằng không hỗ danh với vùng đất có tên gọi “Đất Phú - Trời Yên”./.
Quê nhà, 19/10/2014
HỒ NGHĨA PHƯƠNG

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

THƠ HAY VỀ TÌNH YÊU

Nguyễn Thị Hồng Vân
THUYỀN

Một ngày
thuyền lạc bến mơ
Nụ hôn khe khẽ
chạm bờ khát khao

Thuyền tình
nửa cánh nghiêng chao
Cứ phiêu diêu hỏi
khi nào có nhau?

Có bao giờ
biển già đâu
Còn em thì mãi
bạc đầu nhớ anh!

N.T.H.V
***
 Vũ Ngọc Giao


hồn ta
là một cõi buồn
đôi khi
nước mắt chợt tuôn không ngờ
đêm đêm
ta hát lời thơ
ngàn đời
vẳng vọng hững hờ trong em

vẫn năm ngón nhỏ
thon
mềm
bấu đời ta
với nỗi niềm quạnh hiu.

V.N.G
***************
Dương Đoàn Trọng

MÁ LÚM ĐỒNG TIỀN

Nỗi buồn đổ mãi không vơi
Từ hôm khăn gói đi chơi hội làng
Trong vai cô Tấm dịu dàng
Đồng tiền trên má em mang hững hờ

Làm tôi săn đón đợi chờ
Mà em chẳng hẹn bao giờ cho vay
Thế rồi từ ấy đến nay
Cứ mong cứ nhớ cứ say dáng hiền

Chỉ vì em giữ đồng tiền
Tôi nghèo xơ xác cả miền tương tư.

D.Đ.T

_______________
Tác giả Dương Đoàn Trọng (Hà Nội)
ĐT:01687685911
Email: trong867017@gmail.com


 CHIỀU BUỒN

Thơ : Trịnh Trường
Hình ảnh (Internet)

Chiều buồn nắng ngả về đâu
Hoàng hôn buông sớm nặng sầu nhớ thương
Màn đêm tĩnh mịch canh trường
Mắt ai còn ướt sương đêm khóc người

Thu tàn lòng cũng tái tê
Chớm đông mới hiểu phu thê thế nào
Bao đêm nắm những chiêm bao
ủ ê tình cũ ngấm vào tim sâu

Thu tàn nắng ngả về đâu
Dọc dài nỗi nhớ nặng câu đợi chờ

BMT,Ngày 17.10.14

*****

Đức Nguyễn:
 BUỒN
 
Ngồi buồn
Mình nhớ người ta
Người ta hờ hững
Lệ sa cõi lòng

Ngồi buồn
Mình ngắm mênh mông
Trăng treo ngọn liễu
Buồn không hỡi tình??

Ngồi buồn
Gác vắng lặng thinh
Ánh đèn hiu hắt
Bóng hình cô liêu

Ngồi buồn
Nuối tiếc bao nhiêu
Nỗi đau
Cào xé..
Càng nhiều bấy nhiêu

Ngồi buồn
Quạnh vắng cô liêu
Nhìn mây..xám lạnh
Nhìn Kiều* xa xăm

Ngồi buồn
Mình ngắm lạnh căm
Rượu hồng ai chúc..
Buồn thăm thẳm buồn...
                                                                              Vân Huỳnh

AI ĐEM

Ai đem nước mắt tưới chiều
Buông lơi sợi nhớ mỹ miều buộc mây
Biển chiều ngọn gió nồm lay
Tóc bay từng lọn ngất ngây trói hồn

Ai đem vạt nắng hoàng hôn
Gieo lên đôi mắt bồn chồn lòng tôi
Ngẩn ngơ nhìn chẳng muốn rời
Chiều vàng xuống biển mãi ngồi mộng mơ

Ai đem con gió bất ngờ
Thổi tung vạt áo câu thơ hẹn thề
Biển ru sóng hát say mê
Nhạc tình sóng cứ vỗ về bờ đêm

Ai đem hai gót chân em
Dẫm trên hạt cát mịn mềm đành sao!
Có hay lòng cát đớn đau
Bàn chân em dẫm nhớ nhau một đời.



Tình Yêu Cafe
Nguyễn Vũ:
Người về còn chút riêng mang
Phố xưa giờ đã trễ tràng mùa trăng

Bến chiều se lạnh sương giăng
Thuyền đi biết có dùng dằng ngày qua ?

Thôi đừng trách chuyện bướm hoa
Tình neo bến nhớ, người xa cuối trời

Trách chi chuyện của một thời….
Riêng mang … gom một góc đời cho ai !

Tình như một giọt sương mai
Chắt chiu từ những đếm dài nhớ nhau

Tầm xuân quyện với hương cau
Dường như còn nuối vòng tay một người

Riêng mang sau ánh mắt cười
Một lời ai trách bằng mười nỗi đau


Sông Hương
 Thôi thì qua một tình yêu
Nụ hôn nín lặng tóc chiều rưng rưng
Ta hữu hạn, người khôn cùng
Ai xé kỷ niệm, ai tung nỗi buồn

Thôi thì trả cỏ giận hờn
Bước chân thuở ấy giờ đơn côi rồi
Đi qua những cuộc đùa chơi
Thấy mình khờ khạo như thời mười lăm

Gió là gió, trăng là trăng
Đã đành mắc tội, ăn năn cũng thừa
Thôi thì… đứt đoạn… ngày xưa
Đóa hồng nguyên vẹn, người vừa trao ai

Tóc dài ôm lấy bờ vai
Tay mình ôm lấy hình ai bây giờ?
Thôi thì hết tuổi ngây thơ
Khi nào mới hết dại khờ tình ơi?

Nụ cười vương vãi trên môi
Mắt người liếc chéo làm rơi tóc chiều
Thôi thì qua một tình yêu…

- Đinh Thu Hiền -
 
 
 

 

TÌNH YÊU CAPHE

 
Khép lại một nỗi nhớ không tên
Dành cho một người chưa từng biết đến
Khép lại cơn mưa nhạt nhòa ẩn hiện
Để tự hỏi rằng mình đã yêu ...

Khép lại dại khờ để giữ được bao nhiêu
Những ngọt ngào thoáng qua ô cửa sổ
Như thời gian âm thầm và lặng lẽ
Để nỗi buồn gửi lại phía đằng sau ...

Khép lại rồi mình vẫn bước qua nhau
Như cơn gió vô tình làm thay lá
Khép lại rồi sẽ không còn vội vã
Những muộn phiền chợt đến rồi chợt đi ...

Khép lại rồi chẳng vướng bận những hoài nghi
Về tình yêu mong manh và dễ vỡ
Một niềm tin vô tình đặt nhầm chỗ
Để nụ cười vương lại những giọt sương

Khép lại rồi để nhìn lại trong gương
Tự nhủ rằng phải chăng mình đã khác
Thoáng qua nhanh những mảnh ghép rời rạc
Ngủ ngon rồi một quá khứ không bình yên ...

Khép lại rồi mình cũng sẽ lớn lên
Trái tim thôi không hướng về người ta nữa
Khép lại rồi sẽ chẳng thêm lần nữa
Thấy mắt buồn nhòe bởi những thờ ơ ...


st

EM BIẾT

 
 
Em biết rằng em sẽ phải mất anh,
Ngày hôm nay là một ngày đặc biệt
Em không muốn nói là em đã biết,
Suy nghĩ trong anh cùng những âm thầm...

Đợi một ngày tin nhắn chẳng hồi âm,
Dòng nhật ký không lời anh thân thiết
Em vẫn biết không một lời từ biệt,
Anh ra đi,day dứt một mối tình.

Em một mình với khoảng trống lặng thinh,
Gió lắt lay cuốn tình vào hư ảo
Em miệt mài chuyện đời lo cơm áo
Tình yêu anh trả lại với trăng sao.

Em trở về lặng lẽ những hư hao
Tình yêu ơi có gì đâu phai dấu
Nỗi đau riêng ai nào đâu hiểu thấu
Nhớ thương ơi đừng đau đáu kiếm tìm.

Em trở về quay gót xót trong tim
Những yêu thương với hẹn hò đôi lứa
Đừng cho em những gì rung động nữa
Lửa tình yêu ơi, xin mi hãy lụi tàn !

CHỮ DUYÊN

CHỮ DUYÊN
Chữ Duyên đắt lắm người ơi
Khi xưa đem đổi một trời nhớ thương
Một ngàn lẻ mối tơ vương
Gỡ cho đến lúc tóc sương chưa rồi

Chữ Duyên quý lắm người ơi
Khi xưa đem tặng vốn, lời kể đâu
Đành rằng đìa cạn ao sâu
Vì chưng nước rút cá sầu nổi nênh

Đành rằng duyên phận mỏng tênh
Vì chưng vôi bạc phải lên màu trầu
Cau kia đợi chẳng thấy đâu
Trầu già không thắm đêm thâu lạnh lùng

Chữ Duyên chẳng đặng chẳng đừng
Mới đem đổi lấy một rừng nhớ mong
Chữ Duyên là chữ cho không
Nghìn vàng đổ biển quyết không vớt về

Chữ Duyên là chữ hẹn thề
Đã đem đi tặng khen chê ai màng
Chữ Duyên là chữ bằng vàng
Đã vô tay người thì giữ làm tin

St

KHOẢNG CÁCH

 
KHOẢNG CÁCH
Ta vẫn đau trong từng khoảnh khắc
Khi nghĩ về người ở phương xa
Về khoảng cách giữa hai chúng ta:
Về địa lý và... tâm hồn nữa...

Giận lắm cái khoảng cách trùng khơi
"Xa cách quá... có không người hỡi?!"
Xui khiến chi hai đứa hai nơi
Để tin yêu mông lung đến thế ?!!!

Biết đó là... " tình yêu không thể"
Sao vương vấn, hoang tưởng mãi thôi?
Đến bao giờ trời_đất đổi ngôi
Cho chúng mình thôi không xa nữa???!!!

BD 22/10/2014

chủ đề phụ nữ nhân ngày 20/10/2014

 

Trong tiết học về đề tài tôn giáo, khi nói về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, các học viên được yêu cầu nêu vai trò, chức năng của phụ nữ trong đời sống xã hội người VN. Sau khi liệt kê các đầu dòng như: duy trì nòi giống, xây dựng kinh tế, là những chiến binh, giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc... tôi cả gan nêu thêm 'Thay mặt cha mẹ để… dạy dỗ chồng nên người'.

Tuy nhiên, thực lòng mà nói, bỏ qua cái vỏ ngôn ngữ bông lơn, cà khịa đó, thì cái lõi thông tin của gạch đầu dòng kia hoàn toàn nghiêm túc. Giúp chồng thành công, lẽ nào đó không phải là một chức năng, một vai trò rất nổi bật đã mang tính truyền thống của người phụ nữ VN?
Khi tìm hiểu từ các nguồn tư liệu thì điều làm tôi thú vị và rất đáng tự hào là mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Khổng nhưng dễ dàng nhận thấy một đặc điểm rất rõ về người phụ nữ cổ truyền VN, đó chính là người phụ nữ chủ gia đình.
Không khó để tìm gặp những tiêu chí từ vượng phu, ích tử đến bình dân và dễ hiểu hơn: Những người thắt đáy lưng ong/Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con… Không khó để tìm gặp trong kho tàng văn học dân gian những câu chuyện theo chủ đề: Gái ngoan dạy chồng, những đúc kết: Giàu nhờ bạn sang nhờ vợ, Gái ngoan làm sang cho chồng… nó khẳng định một điều, có một công việc, đúng hơn là một sứ mệnh luôn hiển hiện rờ rỡ trong tâm thức, trong đời sống tinh thần, trong kho tàng văn học nghệ thuật dân gian của người VN nhiều thế hệ, đó là người phụ nữ thì phải biết giúp chồng thành công. Rất nhiều thế hệ phụ nữ Việt thuộc nằm lòng những hình ảnh đã trở thành biểu tượng cho mình, đó là những con cò lặn lội bờ sông, quanh năm buôn bán ở mom sông… gắn với sứ mệnh gánh vác gia đình với những phẩm chất trung hậu, đảm đang, khiêm nhường, vị tha, hy sinh…
Một người bạn nước ngoài nói với tôi rằng anh ta rất thú vị và khâm phục thứ “quyền lực mềm” của những bà vợ Việt: Phụ nữ VN khi đi lấy chồng không bị đổi họ, nhưng tên tuổi họ thường ẩn đằng sau những tên chồng, tên con, tên cháu. Cho dù vậy, họ là những con người quyền lực thật sự trong gia đình. Họ nắm tài chính (kể cả nhận lương và giữ luôn thẻ ATM của chồng!). Không những thế, nhiều người còn đảm trách luôn gia sản và mọi công việc của cả dòng họ bên chồng. Người Việt có những từ để chỉ người vợ vô cùng sâu sắc và ý nghĩa: nhà tôi, mình, bạn đời. Riêng trong phạm vi này thì chỉ số dân chủ về giới của VN thuộc hàng… cao nhất thế giới.
Tuy nhiên, có một thực tế: Ngày càng có rất nhiều phụ nữ vì lo làm việc để tăng thu nhập, họ phải làm việc nhiều hơn, cạnh tranh bình đẳng với các đồng nghiệp kể cả nam giới, họ sẽ không thể dành nhiều thời gian lo cho chồng, con... Điều này khiến ông chồng cảm thấy khó chịu, thậm chí nảy sinh bạo lực gia đình. Rõ ràng, nếu vai trò truyền thống của phụ nữ trong gia đình càng cao thì họ càng ít có cơ hội để đạt được bình đẳng giới. Cũng có một thực tế khác, nhiều phụ nữ vì nghiễm nhiên cho mình là chủ nên thay vì tự khẳng định sức mạnh của bản thân, họ chăm chăm quản lý, lục túi, giám sát và biến mình thành cai ngục của chồng.
Nhiều người nhận xét: Phụ nữ VN có thể bề ngoài không hẳn là mạnh nhưng lại có ảnh hưởng và quyền uy nhất định. Có lẽ vì vậy mà tín ngưỡng thờ Mẫu có một sức sống mạnh mẽ trong đời sống người dân Việt. Và cho dù có mang màu sắc bông lơn đến cỡ nào thì việc thay mặt cha mẹ vẫn không phải là để NUÔI - DẠY mà là DẠY - DỖ. Mối quan hệ được xây dựng từ tình yêu thương sâu sắc, nghệ thuật kết hợp tài tình giữa sự dịu dàng và mạnh mẽ. Một vẻ đẹp mang đậm bản sắc người phụ nữ VN.

Trần Thị Cúc Phương

 sức chịu đựng vượt quá giới hạn của người phụ nữ với những công việc không tên và đã đến lúc họ cần được giải phóng.
Năm 1971, một báo cáo của BBC đề cập tới vấn đề phụ nữ phải đối mặt với sự quá tải. Tài liệu ấy có tên: “Thời đại của chúng ta đã tới.”. Trong đó, một công nhân nữ tại một cửa hiệu nói: “Tôi đặt chuông lúc 6h sáng và làm một số công việc nhà. Tôi ra khỏi nhà lúc 8h30’, đến nơi làm lúc 9h sáng. Công việc của tôi kết thúc lúc 3h chiều, tôi về nhà lúc 16h30’, nấu nướng và những công việc dang dở của tôi tiếp tục cho tới 19h, giờ ăn tối.”
Suốt 13h làm việc trong ngày, người phụ nữ chỉ được trả tiền cho vài giờ làm việc ở chỗ làm, những giờ còn lại hoàn toàn không công. Thậm chí, cho đến tận thế kỷ 21 này, lương của phụ nữ vẫn được trả ít hơn nam giới khi cả hai phái cùng làm một việc như nhau.
Năm 1972, một nhà hoạt động vì vấn đề nữ quyền nổi tiếng là Selma James đã thành lập chiến dịch “Tiền lương quốc tế cho công việc nhà”. Chiến dịch này lên tiếng cho việc “cai quản tổ ấm” cũng thuộc một trong những công việc trong xã hội. Lũ trẻ không đến trường nếu như chúng chưa được đưa đi đánh răng, chưa được nấu cho bữa sáng, chưa được ai là quần áo. Những ông chồng phải nhìn thấy bữa tối dọn ra sau khi đi làm về. Công việc nội trợ chính là hoạt động khởi đầu và kết thúc cho mọi công việc khác nhưng tại sao nó lại bị coi là “không công”, và “không được xem trọng”?
Một nghiên cứu năm 1975 cho biết, các cặp vợ chồng thường nảy sinh cãi vã nhiều nhất về vấn đề ai rửa bát, ai giặt quần áo, ai lau nhà,…
Nhiều người có thể đặt ra câu hỏi “Sao không thuê lấy một người giúp việc?”. Đúng, việc thuê một người giúp việc sẽ chẳng phải là điều gì to tát, tốn kém. Nhưng hãy lật ngược lại vấn đề, đứng trên phương diện của người giúp việc, ai sẽ giúp cô ấy chăm lo cho lũ trẻ, ai sẽ giúp chồng cô ấy làm việc nhà? Cuối cùng thì vấn đề của gia đình bạn lại trở thành vấn đề của gia đình người khác và sẽ chẳng có gì thay đổi trong xã hội cả.
 
Để xoa dịu gánh nặng cho phụ nữ, cần một cuộc cải cách căn bản giữa phụ nữ và đàn ông trong việc chia sẻ công việc nhà. Những ông chồng hãy thôi cằn nhằn về việc nhà, thôi chì triết người vợ của mình bằng câu nói “hãy ra ngoài kiếm tiền xem công việc nào khó khăn hơn”. Chính những điều này đã chối bỏ quyền lao động của phụ nữ. Việc nhà cũng là một công việc.
Mới gần đây, Emma Watson cũng đã có một bài phát biểu về vấn đề bình đẳng giới. Bình đẳng không có nghĩa là đề cao phụ nữ và ghét bỏ đàn ông, bình đẳng là khi những quyền của nữ giới được ghi nhận từ phía nam giới. Chúng ta đang ở thế kỷ 21, hãy nhìn lại từ những thế kỷ trước, những thế hệ phụ nữ trước họ cũng đã cố gắng để được ghi nhận nhưng bất bình đẳng vẫn tồn tại cho tới ngày hôm nay. Thậm chí nhiều người phụ nữ còn thấy "tiếc" vì trót đòi quyền bình đẳng, bởi họ vừa phải làm việc như nam giới, vừa phải chu toàn việc nội trợ như trước đây, vậy thì bình đẳng đang được nhìn nhận kiểu gì vậy.
Tuy nhiên, các cô gái thế kỷ 21, những người đang rất độc lập về suy nghĩ, về tài chính thì lại đang chọn cách độc thân, hoặc phân công công việc rõ ràng rành mạch. Họ thậm chí cũng dễ dàng ly hôn khi nửa kia không làm tròn trách nhiệm, nhưng nếu vậy thì tính phụ nữ trong những gia đình hiện đại đang bị thiếu trầm trọng, mà như vậy thì sợi dây gắn kết gia đình lại quá lỏng lẻo. Còn nếu hiểu sự nghỉ ngơi của phụ nữ là không phải chăm sóc người đàn ông của mình và gia đình của cô ta thì... phụ nữ được cử xuống hạ giới để làm gì? Bởi họ xuống đây là để tạo dựng gia đình hạnh phúc, chăm sóc con cái và yêu thương một người đàn ông, họ khó mà nghỉ ngơi cho được, vì nếu được thư giãn rảnh rang, họ cũng sẽ kêu buồn và than... khổ bởi "Chúa đã tạo ra đàn bà" là phải như thế!
 
 

Trong 2 giờ, các chuyên gia chính sách giải đáp nhiều thắc mắc xung quanh tình hình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay, tư vấn kỹ về quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ.

Vì nhiều lý do, phụ nữ không được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này dẫn tới nhiều hệ lụy về mục đích hôn nhân và quyền tài sản của phụ nữ. Trong ngày Phụ nữ VN, các chuyên gia chính sách giải đáp những vấn đề liên quan đến một nửa dân số.

Khi hàng năm, người dân Việt Nam dành 2 ngày đặc biệt để tôn vinh và chăm sóc phụ nữ là 20/10 và 8/3. Việt Nam cũng được các tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những nước đạt được nhiều tiến bộ về các mục tiêu bình đẳng giới, dựa trên tỷ lệ học sinh nam/nữ đều được đến trường; Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm 48,4% lực lượng lao động. Tỷ lệ phụ nữ giữ những vị trí quan trọng ở mức trung có tỷ lệ cao.
Tuy nhiên, trong một hội thảo về vấn đề giới gần đây, các chuyên gia cũng chỉ ra rằng tình trạng bạo hành gia đình nhằm vào phụ nữ còn rất cao; và một trong những nguyên nhân chính khiến phụ nữ dễ rơi vào tình huống dễ bị tổn thương là sự lệ thuộc, trong đó sự lệ thuộc về kinh tế, quyền tài sản được nhắc đến như là một trong những nguyên nhân chính. Khi người phụ nữ lấy chồng, về gia đình chồng ở, đóng góp nhiều công sức xây dựng chung; nhưng khi mục đích hôn nhân không đạt được; người phụ nữ bắt buộc phải đứng trước lựa chọn: hoặc bế con đi tay trắng, hoặc tiếp tục ở lại trong cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Trường hợp của chị Lê Thị Lý bị chồng là Nguyễn Tiến Thịnh bạo hành ở Vĩnh Phúc ồn ào mấy năm trước là một câu chuyện điển hình.
Ngoài ra, cho dù quyền bình đẳng của phụ nữ đã được thể chế hóa trong Hiến pháp từ năm 1945, được chi tiết hóa trong các luật dân sự và các bộ luật liên quan đến tài sản khác nhau; quy định rõ vợ chồng đồng sở hữu tài sản chung trong hôn nhân; Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 qui định tài sản được phân chia bình đẳng giữa hai vợ chồng khi ly hôn, và giữa con cái trong thừa kế; Luật Bình đẳng giới 2006 qui định rằng vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng thu nhập chung và trong việc quyết định các nguồn lực gia đình. Gần đây nhất, Luật Đất đai sửa đổi 2013 đã chính thức có hiệu lực thi hành từ 01/07/2014 trong đó Khoản 4 Điều 98 quy định đảm bảo quyền bình đẳng của vợ và chồng trong sử dụng đất sản xuất và đất ở.
Việt Nam cũng đã cam kết thực thi nhiều công ước quốc tế có liên quan đến quyền bình đẳng của nam và nữ. Có thể kể đến một số công ước như: Tuyên ngôn nhân quyền 1948 có ghi tại Điều 17 xác định mọi người đều có quyền sở hữu tài sản riêng của mình và tài sản chung với người khác; Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, 1978 (CEDAW) quy định các quyền như nhau về sở hữu, kiểm soát và hưởng dụng tài sản của phụ nữ và nam giới; Đặc biệt, tại văn kiện Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000 (MDG 11, 2 và 7) đã ghi rõ việc đảm bảo quyền tài sản và thừa kế tài sản cho phụ nữ và trẻ em gái.
Tuy nhiên, ở nhiều nơi, vì nhiều lý do: tập tục văn hóa, nhận thức hạn chế của chị em phụ nữ về quyền của mình, cũng như trách nhiệm thực thi của các Cơ quan quản lý liên quan về vấn đề này chưa cao, dẫn tới tình trạng ở nhiều nơi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất/Bìa đỏ) hiện vẫn còn chưa được ghi cả tên vợ và tên chồng. Điều này dẫn tới việc thực hiện chính sách pháp luật không đầy đủ, tiếp tục đẩy phụ nữ vào trạng thái dễ tổn thương, cùng vô vàn hệ lụy khác (cha mẹ không ý thức đầy đủ về quyền thừa kế của con gái; chồng/gia đình chồng không ý thức đầy đủ về quyền lợi của vợ/con dâu; khi hôn nhân tan vỡ, người phụ nữ và trẻ em rơi vào trạng thái khó khăn vì không có chứng lý pháp luật để bảo vệ tài sản..vv.. ) dẫn tới vòng luẩn quẩn về hôn nhân và chất lượng sống không giải quyết được.
Với mong muốn người dân hiểu rõ hơn về chính sách và quyền tài sản của phụ nữ, góp phần thúc đẩy việc cấp "Giấy chứng nhận QSDĐ cho người dân ghi rõ cả tên vợ và chồng" được thực thi tốt hơn trong thời gian tới, Tuần Việt Nam và Liên minh đất đai Landa tổ chức giao lưu trực tuyến ‘Chính sách đất đai và Quyền tài sản của phụ nữ vào 14:00 - 16:00 ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10/2014.
Các khách mời tại tòa soạn VietNamNet. Ảnh: Lê Anh Dũng
Các chuyên gia - khách mời:
1. GS. TSKH Đặng Hùng Võ - Nguyên thứ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường
2. Bà Trần Thị Minh Châu - Giám đốc Viện Tư vấn Phát triển kinh tế xã hội Nông thôn và Miền núi (CISDOMA)
3. Ông Phạm Văn Thành - Chủ tịch Liên minh đất đai (Landa), Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cộng đồng nông thôn (CCRD).
NỘI DUNG BUỔI GIAO LƯU
Nhiều luật bảo vệ quyền về tài sản của phụ nữ
Công Thành, Nam - 35 tuổi
Ông có thể chia sẻ về quyền phụ nữ trong tiếp cận đất đai được quy định trong những văn bản pháp luật nào? (công ước quốc tế và văn bản chính sách pháp luật liên quan tới đất đai tại Việt Nam)?
Ông Phạm Văn Thành: Quyền sở hữu tài sản (bao gồm đất đai) và các quyên liên quan khác là những quyền cơ bản của con người, đảm bảo bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong các lĩnh vực tài sản và nỗ lực của nhiều quốc gia trong đó có VN trong nhiều thập kỷ qua.
Ngày 10/10/1948 đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người. trong đó điều 17 ghi: "Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản riêng của mình và tài sản chung với người khác; Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách tùy tiện." Tuyên ngôn này đã mở đường cho nhiều văn bản cũng như công pháp quốc tế quy định về quyền tài sản của con người nói chung và phụ nữ nói riêng.
Ngày 18/12/1979, LHQ đã thông qua công ước xoa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), trong đó nhấn mạnh: "Các quốc gia thành viên phải dành cho phụ nữ những quyền binh đằng trong việc ký kết hợp đồng, quản lý tài sản và phải đảm bảo các quyền ngang nhau của cả vợ và chồng đối với sở hữu, thu nhận, kiểm soát, quản lý, hưởng thụ và sử dụng tài sản, dù không phải trả tiền hay có giá trị lớn".
Năm 2000, 189/192 quốc gia thành viên trong đó có VN đã nhất trí thông qua tuyên bố thiên niên kỷ (MDG) và cam kết đạt được 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vào năm 2015. Một trong 8 mục tiểu đó là thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Tuyên bố cũng đã xác định các vấn đề ưu tiên liên quan chặt chẽ với nhau cần thực hiện để đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, trong đó có việc đảm bảo quyền tài sản và thừa kế tài sản cho phụ nữ và trẻ em gái.
Còn ở VN hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đến Hiến pháp 2013 đều khẳng định sự bình đẳng giữa nam và nữ về mọi phương diện.
Hiến pháp 2013 mới đây ghi rõ: "Công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; nhà nước có chính sách đảm bảo quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.
Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định tài sản được phân chia bình đằng giữa hai vợ chồng bình đẳng khi ly hôn và giữa con cái trong thừa kế. Tài sản chung vợ chồng bao gồm tài sản do vớ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng, cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và chồng"
Luật bình đẳng giới 2006 quy định rằng vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng thu nhập chung và trong việc quyết định các nguồn lực gia đình.
Ngày 1/7/2014 Luật đất đai (sửa đổi) 2013 đã chính thức có hiệu lực thi hành trong đó quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:
"Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và tài sản chung của cả vợ và chồng thì phải ghi cả họ tên vợ và chồng vào giấy chứng nhận quyền sở dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên 1 người."
Toàn cảnh buổi giao lưu. Ảnh: Lê Anh Dũng
Nguyễn Hải Hà , Nam - 36 Tuổi Qua các phương tiện truyền thông tôi được biết, Luật đất đai 2013 có quy định GCNQSD đất được ghi tên của cả vợ và chồng nhưng không biết thủ tục như thế nào. Đề nghị chuyên gia hướng dẫn thủ tục.
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Việc ghi cả tên vợ và chồng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của cả vợ và chồng đã được quy định trong Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000, Luật đất đai 2003, và Luật đất đai 2013 hiện đã có hiệu lực thi hành. Khi vợ và chồng có quyền sử dụng đất chung, thì lúc đăng ký đất đai để xin cấp giấy chứng nhận cần nói rõ với văn phòng đăng ký đất đai rằng đây là quyền sử dụng đất chung và giấy chứng nhận phải ghi cả tên vợ và chồng. Trong trường hợp nơi đó không thực hiện (do quên hoặc do hiểu chưa đúng) thì người phụ nữ có thể viết đơn đề nghị đính chính Giấy chứng nhận sao cho phải ghi cả tên vợ và tên chồng. Trường hợp Quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận mà chỉ ghi một tên, thì cần làm đơn đề nghị cấp đổi lại giấy chứng nhận có ghi tên của cả vợ và chồng. Trình tự thủ tục về cấp mới Giấy chứng nhận cũng như cấp đổi Giấy chứng nhận đã được quy định cụ thể trong hệ thống thủ tục hành chính về đất đai, được công khai trên mạng Internet, cũng như tại các văn phòng đăng ký đất đai và trụ sở UBND cấp xã.
Văn Trung, Nam - 31 tuổiTôi nghe nói luật pháp có quy định các tài sản sau khi kết hôn được ghi tên cả vợ và chồng nhưng không biết cụ thể. Xin chuyên gia nói rõ về vấn đề này.
Ông Phạm Văn Thành: Tài sản chung do hai vợ chồng có được sau khi kết hôn thì được ghi tên cả hai vợ chồng.
Luật hôn nhân và gia đình quy định tài sản được phân chia bình đẳng giữa hai vợ chồng sau khi ly hôn và giữa con cái trong thừa kế.
Điều 95 khoản 4 điểm h, điểm i ghi rõ:
h)Chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành quyền sử dụng chung, quyền sở hữu tài sản chung của vợ và chồng
i) chia tách quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của tổ chức hoặc của hộ gia đình hoặc của vớ và chồng hoặc của nhóm người sử dụng đất chung, nhóm chủ sở hữu tài sản chung gắn liền với đất:
"Trong trường hợp tài sản thuộc chủ sở hữu chung của vớ và chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và chồng"
Điều 98 khoản 4 ghi rõ trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi tên cả họ tên vợ và chồng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận ghi tên 1 người.
Trong trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và tài sản chung của vợ hoặc chồng mà giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi tên vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với dất để ghi cả họ tên vợ và họ tên chồng nếu có yêu cầu.
Nam Thanh, Nam - 32 tuổiLuật đất đai 2013 có quy định GCNQSD đất được ghi tên của cả vợ và chồng nhưng không biết rõ ý nghĩa. Đề nghị chuyên gia giải thích.
Ông Phạm Văn Thành: Trước đây Luật đất đai 2003 cũng đã có quy định là người vợ và người chồng đều có thể đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vấn đề này đồng nghĩa với việc họ hoàn toàn có quyền bình đẳng trong việc hưởng dụng, định đoạt tài sản. Với phụ nữ đây là cơ hội tốt để họ tăng cường tiếng nói trong gia đình và xã hội. Tuy nhiên luật đất đai sửa đổi 2013 yêu cầu việc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời của cả vợ và chồng. Theo quy định này, mọi người dân đều có quyền yêu cầu văn phòng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp huyện) cấp đổi hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ghi tên cả hai vợ chồng nếu trước đây chỉ ghi tên 1 người.
Quỳnh , Nữ - 38 TuổiTại khoản 4 điều 98 Luật đất đai có quy định về việc đảm bảo quyền của vợ và chồng trên GCNQSD đất sẽ được cấp đổi nếu có yêu cầu. Điều này được hiểu như thế nào?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Đối với những giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của vợ và chồng mà đã cấp chỉ ghi một tên thì một trong hai bên hoặc cả hai bên có quyền đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thành giấy chứng nhận mang cả tên vợ và tên chồng. Trình tự thủ tục đã được quy định tại Nghị định số 43/2014/ND-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đất đai 2013. Tất nhiên trình tự thủ tục cụ thể để thực hiện tại địa phương còn phụ thuộc vào quy định của UBND cấp tỉnh về thủ tục hành chính trong quản lý đất đai.
Minh Hà , Nữ - 40 TuổiTôi nghe nói về Quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ, vậy quyền đó là như thế nào?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ là một khái niệm chung về quyền của phụ nữ với đất đai, trong đó có việc cấp giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất chung của hai vợ chồng phải ghi cả tên vợ và tên chồng, việc giải quyết sử dụng đất này khi có thay đổi như: chồng hoặc vợ chết, ly hôn, nhận thừa kế,nhận tặng cho, được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Do tất cả những việc có liên quan đến thay đổi quyền sử dụng đất đều phải được giải quyết dựa trên cơ sở quyền sử dụng đất chung của vợ và chồng (giấy chứng nhận phài ghi cả tên vợ và chồng). Chính vì vậy, điểm cơ bản nhất của Quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ là việc thực hiện thật đúng quy định về việc cấp giấy chứng nhận đối với quyền sử đất là tài sản chung của vợ và chồng phải ghi cả tên vợ và tên chồng.
GS.TSKH Đặng Hùng Võ và bà Trần Thị Minh Châu tại tòa soạn VietNamNet
Bà Trần Thị Minh Châu: - GCNQSD đất cần ghi đầy đủ họ tên của cả vợ và chồng khi thửa đất đó là tài sản chung của cả 2 vợ chồng
- Nếu GCNQSD đất hiện tại của gia đình chỉ ghi họ, tên chồng thì vợ chồng cần yêu cầu cơ quan chức năng cấp đổi để đảm bảo có ghi đầy đủ họ, tên của cả hai người nếu đó là tài sản chung của 2 vợ chồng.
- Chính quyền và cơ quan chức năng có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này theo quy định của khoản 4 điều 98 Luật Đất đai 2013.
nguyễn hữu bằng , Nam - 27 TuổiTheo tôi tìm hiểu trong luật dân sự năm 2005 có điều khoản tài sản hình thành sau hôn nhân của cả vợ chồng đều được tính chung, vậy có cần thiết in trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên của cả vợ chồng không, nếu quyền sử dụng đất đó có đóng góp công sức của cả 2 vợ chồng?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Hệ thống pháp luật của Việt Nam có quy định khá đầy đủ về tài sản chung và tài sản riêng của cả vợ và chồng. Không chỉ trong bộ luật dân sự 2005 mà còn thể hiện cụ thể trong Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000 (Luật Hôn nhân & Gia đình 2014, có hiệu lực từ ngày 1/1/2015) và Luật đất đai 2013 (nếu tài sản là quyền sử dụng đất ). Về mặt lý thuyết thì hai vợ chồng có thể cử đại diện đứng tên và không nhất thiết phải ghi cả hai tên. Trên thực tế nhiều khi quan niệm theo luật tục còn mạnh hơn quy định của pháp luật. Theo tư duy của luật tục, người ta có thể quên quy định của pháp luật. Khi giấy chứng nhận chỉ ghi một tên người ta sẽ có thói quen sẽ chỉ quan tâm đến người đứng tên trên giấy mà quên đi quyền và lợi ích của những người có liên quan. Đặc biệt những nước đã từng theo lý thuyết Nho giáo thì thường ít quan tâm đến lợi ích của phụ nữ. Trong trường hợp này, khi trên giấy chứng nhận chỉ có tên chồng thì những cán bộ thực thi nhiệm vụ dễ quên lợi ích của vợ. Chính vì vậy pháp luật cần phải quy định việc ghi cả tên vợ và chồng trên giấy chứng nhận. Trong xây dựng luật pháp, chúng ta không thể chỉ sử dụng logic hình thức mà còn cần tư duy theo logic xã hội.
Tại sao nhiều phụ nữ vắng tên trong Sổ Đỏ
Thu Hien , Nữ - 25 TuổiTôi nghe trên báo đài có nói phụ nữ có quyền cùng ghi tên trên GCNQSD đất. Vậy làm thế nào để sử dụng và bảo vệ được quyền này khi gia đình và người thân không muốn?
Bà Trần Thị Minh Châu: Trước hết theo quy định trong khoản 4, điều 98 Luật đất đai 2013 thì mảnh đất hoặc nhà ở gắn liền với đất đó phải là tài sản chung của 2 vợ chồng thì chị mới có quyền đứng tên cùng chồng trong GCNQSD đất (sổ đỏ). Thứ hai, nếu thửa đất đó là tài sản chung của 2 vợ chồng chị mà chồng chị không đồng ý cho chị đứng tên thì chị nên giải thích cho chồng đây là quy định của pháp luật và chị phải yêu cầu địa chính địa phương làm đúng quy định của pháp luật.
Manh Hai , Nam - 34 TuổiTrách nhiệm của các cơ quan chính quyền trong việc đảm bảo quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ?
Bà Trần Thị Minh Châu: Theo tôi trách nhiệm của chính quyền trước tiên là tuyên truyền để người dân hiểu rõ chính sách pháp luật và thực hiện đúng pháp luật. Với cơ quan chức năng phải làm đúng quy định pháp luật đối với những trường hợp đất đai là tài sản chung của vợ và chồng thì phải cấp GCNQSD đất 2 tên.
Hong Ninh , Nữ - 30 TuổiTình hình cấp đổi cho GCNQSDĐ đã cấp trước 2004 như thế nào? Một số địa phương tiến độ cấp đổi thấp? Tại sao?
Bà Trần Thị Minh Châu: Ở cả 3 vùng khảo sát của nhóm chúng tôi, các GCNQSD đất đã cấp trước năm 2004 mang tên một người, chủ yếu là người chồng thì nay đã được cấp đổi sang 2 tên cả vợ và chồng ở những vùng có dự án hoặc đối với trường hợp tách hộ chuyển đổi, thừa kế. Ví dụ, đất lâm nghiệp ở Đà Bắc, các loại đất ở huyện Yên Thủy (Hòa Bình), một số xã ở huyện Triệu Phong (Quảng Trị). Tuy nhiên ở cả 3 vùng này, nếu không có dự án hoặc tách đổi, chuyển nhượng, thừa kế thì các GCNQSD đất vẫn mang 1 tên, chủ yếu là người chồng.
Cá biệt có địa phương tỉ lệ cấp đổi từ 1 tên thành 2 tên đối với những trường hợp GCNQSD đất đã cấp trước năm 2004 là 0%.
Lý do người dân không muốn đi đổi GCNQSD đất vì:
- Không biết, không hiểu chính sách GCNQSD đất 2 tên vì chưa được tuyên truyền thấu đáo
- Kinh phí đo đạc, cấp lại là hơi cao
- Tâm lý phụ nữ cho rằng có vấn đề gì đó mới đi đổi sổ
- Tâm lý e ngại đến gặp cơ quan công quyền
- Có hiện tượng vòi vĩnh, nhũng nhiễu từ phía cán bộ địa chính, tài nguyên môi trường
- Đối với đồng bào dân tộc thiểu số (VD: người Vân Kiều) việc không thông thạo tiếng Kinh cũng là một rào cản.
- Tại một số địa phương, số lượng GCNQSD đất nằm tại ngân hàng khá lớn.
Bà Trần Thị Minh Châu giao lưu trực tuyến với bạn đọc VietNamNet. Ảnh: Lê Anh Dũng
Bùi Thị Thắm , Nữ - 42 Tuổi Gia đình tôi vừa đổi sổ đỏ nhưng trên giấy vẫn ghi một mình tên chồng tôi. Tôi thắc mắc thì được cán bộ địa chính bảo ghi vậy cho nhanh. Như vậy là đúng hay sai. Tôi muốn được ghi cả tên mình vào cùng chồng trong sổ đỏ thì bây giờ phải làm gì?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, việc cấp giấy chứng nhận chỉ ghi một tên chồng sau năm 2004 là sai pháp luật, trả lời của cán bộ địa chính xã như vậy là vô trách nhiệm. Theo quy định của Luật đất đai 2013, trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của vợ và chồng mà chỉ ghi một tên thì cần làm thủ tục đổi giấy chứng nhận từ một tên thành giấy chứng nhận ghi cả tên vợ và tên chồng.
Thanh Minh , Nam - 36 TuổiTôi muốn đổi sổ để ghi cả tên của vợ mình vào GCNQSD đất của gia đình để đảm bảo quyền bình đẳng của 2 vợ chồng nhưng trên yêu cầu nộp rất nhiều tiền, có những khoản mà tôi không nhớ rõ nữa. Vậy xin hỏi trong các quy định mới, gia đình tôi có được hỗ trợ đổi sổ hay không?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Thứ nhất, việc cấp đổi giấy chứng nhận chỉ ghi một tên sang giấy chứng nhận ghi cả tên vợ và chồng không phải trả mức phí quá cao. Theo quy định, về nguyên tắc, người có nhu cầu phải trả chi phí cho phôi giấy chứng nhận mới và mức phí đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận khá thấp. Trên thực tế có thể có nhiều địa phương gây khó khăn do chưa nhận thức đúng pháp luật hoặc nhũng nhiễu để tạo tham nhũng nên đã nói mức phí quá cao. HIện nay Luật đất đai 2013 và Nghị định số 43/2014/ND-CP hướng dẫn thực hiện đã có hiệu lực thi hành, nhưng đến nay chắc nhiều địa phương cấp tỉnh vẫn chưa ban hành quy định về mức phí cấp đổi giấy chứng nhận. Theo quy định của pháp luật thì người có yêu cầu cấp đổi giấy chứng nhận phải trả phí cho việc cấp đổi giấy chứng nhận.
Một số địa phương cũng đang được các tổ chức quốc tế hỗ trợ kinh phí cấp đổi giấy chứng nhận. Tại các địa phương này, người có yêu cầu cấp đổi giấy chứng nhận không phải trả phí cho việc cấp đổi giấy chứng nhận. Người dân cần biết rõ những thông tin này để bảo vệ quyền lợi cho mình trong việc cấp đổi giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của vợ và chồng.
Sinh Thành, Nam - 35 tuổi
Tình hình thực thi các chính sách đảm bảo quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ hiện nay như thế nào? Có thuận lợi và khó khăn gì khi triển khai các chính sách này?

Ông Phạm Văn Thành: Kết quả của thực thi chính sách, suy đến cùng, được đo bằng việc chính quyền thực thi chính sách đó ra sao, người đân nhận thức như thế nào về chính sách và được hưởng lợi chính sách đó đến đâu. Luật đất đai 2003/2013 có những điểm tiến bộ là công nhận quyền bình đẳng trong sử dụng đất đai của phụ nữ và nam giới (bao gồm đất đai và tài sản gắn liền với đất) là tài sản chung của vợ và chồng, tuy nhiên trong thực tế người dân đặc biệt là phụ nữ nhìn chung còn thiếu nhiều thông tin về chính sách này cũng như không hiểu rõ lợi ích của chính sách cấp đổi, cấp mới quyền sử dụng đất mang tên cả vợ và chồng cũng như quyển của phụ nữ trong cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận khi mang tên cả hai người.
Với một số cán bộ địa chính ở các xã cũng như ở văn phòng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở huyện tình trạng nói trên cũng tương tự, họ cũng chưa nhận thức đầy đủ được tầm quan trọng của việc thực hiện quyền của phụ nữ thông qua cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cả hai vợ chồng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của những bất cập trong tình trạng cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay ở các địa phương.
Một số nhóm cá biệt trong người dân có nhận thức tốt thì ủng hộ việc có tên của phụ nữ cùng tên của chồng ở trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên từ nhận thức tới thay đổi hành vi vẫn còn khoảng cách khá lớn, nhất là những hành vi e dè, ngần ngại vì những quan niệm phong kiến...của đại bộ phận phụ nữ khi phải đề xuất vấn đề ghi tên mình trong giấy chứng nhận (cấp đổi/cấp mới) quyền sử dụng đất.
Bên cạnh đó những rào cản khác cũng có những tác động nhát định đến việc cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như là: phí cấp đổi, cấp mới còn khá cao so với thu nhập của người dân, thời gian để thực hiện cấp đổi cấp mới giấy chứng nhận cũng như việc cung cấp các giấy tờ/tờ khai để được cấp đổi cấp mới cũng còn chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho người dân, đâu đó cán bộ có trách nhiệm chưa thực hiện hết bổn phận và trách nhiệm của mình cũng như sách nhiễu..
Trước những thực tế trên cần phải có những chiến dịch truyền thông rộng khắp trong toàn quốc để thực thi chính sách đảm bảo quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ thông qua cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi cả hai tên vợ và chồng.
Ông Phạm Văn Thành giải đáp các thắc mắc về quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ.
Ảnh: Lê Anh Dũng
Hồng Minh , Nữ - 32 TuổiTôi có nghe nói luật pháp quy định vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong sở hữu tài sản chung, trong sử dụng thu nhập chung và trong việc quyết định các nguồn lực gia đình nhưng không có hướng dẫn cụ thể. Xin chuyên gia giải đáp.
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Thứ nhất, hiện nay pháp luật đã có hướng dẫn khá cụ thể. Hiện hành, Luật Hôn nhân & Gia đình 2000 đang có hiệu lực thì hành và được hướng dẫn thông qua Nghị định số 24/2013/ND-CP. Trong đó có quy định đầy đủ về các loại tài sản chung và riêng của vợ và chồng, cách thức xử lý với từng loại tài sản khi được thừa kế, để thừa kế, phân chia khi ly hôn. Trên thực tế vẫn có một số địa phương chưa thực hiện đúng những quy định này, có thể gây thiệt hại về quyền lợi đối với phụ nữ (do tập quán tư duy theo lễ giáo phong kiến). Điều quan trọng hiện nay là cần thực thi những quy định này của pháp luật thật tốt trên thực tế.
Diệu Linh , Nữ - 32 TuổiChồng tôi suốt ngày cờ bạc, rượu chè. Lúc nào say hay đánh bạc thua về thường đánh đập tôi và các con, có lúc nặng phải vào bệnh viện. Tôi muốn ly dị nhưng không có chỗ ở, mà sổ đỏ lại chỉ ghi một mình tên chồng tôi. Bây giờ tôi phải làm thế nào?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Trước hết cần xem thửa đất đó của người chồng có trước hôn nhân hay được hình thành sau hôn nhân của cả vợ và chồng. Kể cả trường hợp thửa đất là của người chồng từ cũ thì người vợ vẫn có một phần giá trị tài sản được hình thành sau hôn nhân trên ngay thửa đất đó. Khi chị muốn ly hôn thì chị cần phải tìm hiểu kỹ những quy định của pháp luật về tài sản chung và tài sản riêng của vợ và chồng để chứng minh và bảo vệ lợi ích cho mình trong phân chia tài sản. Nhất là trường hợp thửa đất là tài sản của vợ và chồng mà chỉ ghi tên chồng khi cấp giấy chứng nhận thì tốt nhất là chị tìm cách đổi lại chứng nhận mang cả hai tên vợ và chồng. trong trường hợp có khó khăn khi cấp đổi thì tòa vẫn phải phán quyết đây là tài sản chung, chị cần biết điều đó để bảo vệ lợi ích của mình.
ltn , Nữ - 43 TuổiTôi ở một xã nghèo, xin được giấu tên. Cách đây 3 năm, tôi và chồng li hôn, tòa án quyết định chia đôi tài sản chung là căn nhà chúng tôi đang sống. Do sổ đỏ chỉ mang tên chồng tôi (dù căn nhà mua trong thời gian chúng tôi là vợ chồng) nên tôi không thể bán nhà để chia sau khi li hôn (anh ấy không chịu kí). Tôi đã làm đơn lên tòa án nhân dân huyện và UBND huyện 2 năm nay. Vậy liệu tôi có cơ hội giành lại quyền lợi của mình hay không? Xin cảm ơn
Bà Trần Thị Minh Châu: Để giành được quyền lợi của mình, chị phải kiên trì thuyết phục chồng cũ cùng thực hiện quyết định của tòa án. Nếu chồng cũ của chị vẫn không hợp tác, chị có thể nhờ đến chính quyền địa phương can thiệp.
Huyền My , Nữ - 31 TuổiQua báo đài, tôi biết phụ nữ có quyền đứng tên cùng chồng trên GCNQSD đất. Tuy nhiên, ở quê tôi đất chỉ được chia cho con trai. Nói với chồng thì sợ bị cho là có ý xấu. Vậy tôi phải làm gì để đảm bảo quyền của mình?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Sự thực chị ngại người ta đánh giá chị có ý xấu là do quan niệm của xã hội theo tư duy Nho giáo. Đây là tư duy không đúng và tất cả chúng ta đều phải vượt qua. Điều này có nghĩa là đừng tự kỳ thị mình có ý đồ xấu mà phải quan niệm đây là ý tốt, vì mọi việc được minh bạch về quyền lợi, về tài sản. Trong trường hợp chị cần thuyết phục mọi người là cần phải làm thật rõ về tài sản, không chỉ vì quyền lợi của chị mà còn là vì quyền lợi của các con chị, kể cả gái và trai. Nói cách khác chị phải thuyết phục chồng và gia đình cấp đổi giấy chứng nhận thành giấy chứng nhận có cả tên chị để đảm bảo lợi ích gia đình chị về lâu dài.
nguyen cong hoang phuc , Nữ - 60 TuổiTôi 60 tuổi, có 3 con, không đăng kí kết hôn và chia tay (không sống chung một nhà). Sau đó cha mẹ tôi cho tôi 1 miếng đất, tôi đã bán miếng đất đó và mua miếng lớn hơn và đã xây nhà. Nếu tôi chết đi thì chồng tôi có được quyền tranh chấp với các con của tôi không. Cảm ơn GD. (Sổ đỏ đứng tên mình tôi, hộ khẩu không có tên chồng tôi).
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Theo pháp luật Việt Nam, việc phân chia tài sản sau khi mất phụ thuộc vào di chúc, nếu không có di chúc việc phân chia tài sản sẽ thực hiện theo luật thừa kế. Trong trường hợp chị mất mà chồng vẫn còn (có đăng kí kết hôn) thì người chồng được thừa kế. Nếu người chồng không có đăng kí kết thì không được trong hàng thừa kế. Nếu chị có di chúc thì chị có thể di chúc cho bất kì người nào.
Hạnh Chi , Nữ - 40 TuổiTôi lấy chồng được 15 năm thì chồng tôi mất. Nay tôi muốn đi bước nữa nhưng gia đình nhà chồng bảo nếu thế thì phải trả lại đất ở cho nhà chồng. Đây là đất bố mẹ chồng đã cho chúng tôi lúc ra ở riêng, sổ đỏ có tên chồng tôi. Điều này là đúng hay sai? Bây giờ tôi có thể làm gì để giữ lại nhà của mình?GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Trong trường hợp này, khi chồng chị mất đất đó phải được giải quyết trên cơ sở luật thừa kế nếu chồng chị không có di chúc. Sau khi phân chia thừa kế cần phải đổi lại giấy chứng nhận theo phân chia thừa kế đã được thống nhất. Chắc chắn chị có phần đất được thừa kế theo pháp luật. Vấn đề còn lại chị phải nói rành mạch vấn đề này trong gia đình để mọi người hiểu rõ quy định pháp luật về thừa kế. Mặt khác, chị có quyền yêu cầu chính quyền địa phương thực hiện việc giải quyết thừa kế theo quy định của pháp luật thật rành mạch.
GS.TSKH Đặng Hùng Võ giao lưu trực tuyến với bạn đọc VietNamNet.
Ảnh: Lê Anh Dũng
Bình đẳng giới với Sổ Đỏ 2 tên
Hải Yên, Nữ - 37 tuổiXin chào ông Thành. Tôi được biết có một tổ chức ở Việt Nam có tên Liên minh đất đai, có thể giúp người dân nhất là phụ nữ chúng tôi hiểu và thực hiện quyền về tài sản. Vậy liên minh đã và đang làm gì cụ thể. Xin cảm ơn
Ông Phạm Văn Thành: Liên minh đất đai là một diễn đàn của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu quan tâm đến các vấn đề về đất đai nhằm đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các bên (nhà nước, doanh nghiệp, người dân) trong quá trình chuyển dịch đất đai phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước, đặc biệt là quyền hưởng dụng đất đai của người phụ nữ. Một trong các vấn đề liên quan hiện nay là tình trạng quyền của phụ nữ về tiếp cận đất đai chưa được đảm bảo thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa được ghi tên của phụ nữ.
Liên minh đất đai đã và đang tiến hành các hoạt động nghiên cứu về thực trạng cấp "sổ đỏ hai tên" nhằm tìm ra các giải pháp thích hợp để thúc đẩy vấn đề trên, góp phần cùng với người dân và các cơ quan nhà nước mau chóng đưa Luật đất đai 2013 vào thực tiễn cuộc sống. Liên minh cũng sẵn sàng tư vấn cho cả người dân và cán bộ chính quyền các cấp liên quan nhằm đáp ứng các nhu cầu của các địa phương.
Kiều Oanh , Nữ - 37 TuổiVai trò của các cơ quan công quyền trong việc giám sát việc đảm bảo quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Để thực hiện tốt quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ thì chúng ta cần triển khai tốt 2 cơ chế sau:
- Cơ quan hành chính cấp trên phải thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra với cơ quan hành chính trực thuộc, ví dụ như UBND cấp tỉnh phải thực hiện kiểm tra, thanh tra tốt với Sở tài nguyên môi trường, UBND cấp huyện,…
- Hệ thống cơ quan dân cử gồm Quốc hội và HĐND các cấp cần thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát đối với triển khai công việc của hệ thống hành chính.
Nếu chúng ta thực hiện tốt 2 cơ tốt kiểm tra- thanh tra, giám sát thì việc thực thi pháp luật với việc bảo vệ quyền phụ nữ sẽ ngày càng tốt hơn
Nguyen Manh Tri , Nam - 41 TuổiVì sao cần đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ?
Bà Trần Thị Minh Châu: Quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ cần được đảm bảo vì theo pháp luật:
- Phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong gia đình và xã hội về mọi phương diện, trong đó có quyền tiếp cận đất đai.
- Phụ nữ có quyền tham gia và quyết định trong các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, thừa kế, tặng, cho, quyền sử dụng đât đai.
- Phụ nữ được chủ động trong việc sử dụng, hưởng dụng đối với đất đai, được bình đẳng khi thực hiện quyền cho thuê, quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Qua đó, phụ nữ phát huy được vai trò của mình với phát triển kinh tế gia đình và xã hội.
Thanh Triet , Nam - 30 TuổiNếu GCNQSDĐ hiện chưa có tên của phụ nữ (người vợ) thì họ có thể gặp phải những bất lợi gì?
Bà Trần Thị Minh Châu: - Khó khăn trong xác minh cũng như thực hiện các thủ tục hành chính trong các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn hoặc trong phân chia tài sản, cơ quan có thẩm quyền sẽ mất nhiều thời gian xác minh khi xảy ra tranh chấp.
- Mất quyền sử dụng đất: Không đứng tên trong GCNQSD đất, phụ nữ mất đi quyền sử dụng đất đai. Trường hợp nếu vợ chồng ly hôn, người vợ vì không có tên trong GCNQSD đất nên vô hình chung đất đai của gia đình thuộc về người chồng và người vợ gặp khó khăn khi đòi phần tài sản của mình, vì tòa án phải điều tra xác minh mất nhiều thời gian.
- Nguy cơ xảy ra tranh chấp trong dòng tộc và họ hàng. Nếu không may người chồng mất, anh em gia đình chồng có thể tranh chấp thửa đất với lý do người vợ không có tên trong GCNQSD đất.
- Không được quyền chủ động khi muốn thế chấp ngân hàng để vay vốn hoặc góp vốn vào sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, người chồng (chủ hộ) đứng tên một mình trong GCNQSD đất đồng nghĩa với việc chồng được quyết định đối với quyền sử dụng đất đai – loại tài sản có giá trị nhất đối mỗi gia đình.
cogiang , Nam - 39 Tuổi Tôi kết hôn 2005, năm 2006 ba mẹ cho tôi mảnh đất 200m2 thổ cư, trên GCNQSDĐ chỉ ghi tên Tôi, không có tên vợ (vì ba mẹ tôi chỉ muốn cho riêng tôi nếu tôi chịu cưới vợ).Nay tôi muốn ly hôn tài sản này giải quyết ra sao? Chân thành cám ơn GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Đầu tiên phải khẳng định đây là tài sản riêng, vì anh nhận được tài sản này do bố mẹ tặng cho. Hơn nữa tài sản này được hình thành trước hôn nhân. Vậy đến nay nếu anh muốn ly hôn thì tải sản đó được xử lý như tài sản riêng. Điều này có thể tham khảo theo quy định của Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000,Nghị định số 24/2013/ND-CP hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000. Hiện nay, Luật Hôn nhân &Gia đình 2014 có quy định rất cụ thể về việc xử lý tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng sau ly hôn,nhưng luật này có hiệu lực từ 1/1/2015.
Vương thục Nhi , Nữ - 45 Tuổi Thưa GS, cho tôi hỏi nếu cha mẹ để lại đất cho tôi, chỉ mình tôi đứng tên trong GCN quyền sử dụng đất, nhưng tiền xây nhà là của chung 2 vợ chồng, vậy khi ly hôn tôi có được sở hữu căn nhà và đất, chỉ chia lại phần tiền xây cho chồng hay toàn bộ nhà và đất phải chia cho chồng một nửa?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Các quy định của pháp luật về tài sản chung và riêng của vợ và chồng ở nước ta là khá rõ ràng. Trong trường hợp cụ thể của chị thì quyền sử dụng đất là tài sản riêng của chị vì tài sản này được hình thành trước hôn nhân (do bố mẹ của chị tặng cho). Nhà ở được xây dựng trong thời kỳ hôn nhân và được coi là tài sản chung của vợ và chồng. Tất nhiên pháp luật còn quy định cụ thể hơn về việc nguyên tắc phân chia tài sản chung, đó là phải chứng minh được công sức đóng góp vào việc hình thành tài sản chung. Tóm lại, chắc chắn tòa án xử việc ly hôn sẽ quyết định trên nguyên tắc này, tức là quyền sử dụng đất sẽ thuộc về chị, nhà ở sẽ được phân chia giá trị cho cả hai bên, tùy theo công sức đóng góp của mỗi bên. Khi quyết định, tòa còn căn cứ vào tình trạng nhà ở của mỗi bên sau ly hôn để có thể có thời gian giải quyết việc phân chia giá trị tài sản.
Nguyen Ngoc Tra My , Nữ - 28 Tuổi Hai vợ chồng tôi muốn vay tiền ngân hàng để làm ăn nhưng ngân hàng yêu cầu sổ phải có 2 tên. Vậy tôi phải hỏi ai các thủ tục đổi sổ này?
Bà Trần Thị Minh Châu: Hiện nay theo kết quả khảo sát “Đảm bảo quyền có tên trong GCNQSD đất tại 3 tỉnh: Hòa Bình, Quảng Trị, Vĩnh Long” của Liên minh Đất đai chúng tôi chưa thấy trường hợp nào như vậy. GCNQSD đất một tên vẫn được ngân hàng cho vay nhưng người chồng đứng tên sổ đỏ thì đồng thời đứng tên chủ hợp đồng vay, người vợ đứng thừa kế hợp đồng, người vợ chỉ thiệt thòi vì không được chủ động vay vốn ngân hàng, tức là không được đứng chủ hợp đồng vay.
Còn về việc đổi sổ, nếu thửa đất đó là tài sản chung của 2 vợ chồng thì cả 2 vợ chồng nên đến địa chính xã, phường đề nghị cấp đổi sang Sổ đỏ mang tên cả 2 vợ chồng theo khoản 4 điều 98 Luật đất đai 2013.
Nguyễn Sỹ Phượng , Nam - 42 TuổiĐối với những hộ đang đứng tên sở hữu đất đai 1 người, nếu muốn chuyển sàng tên 2 vợ chồng thì quy trình thủ tục như thế nào, thời gian bao lâu, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc là gì?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Thứ nhất, anh chị phải có đơn nghị chuyển tài sản này là tài chung của 2 vợ chồng, cụ thể là đổi GCNQSD đất thành giấy chứng nhận mang cả tên vợ và chồng. Trình tự thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận đã được quy định rất cụ thể trong hệ thống trình tự thủ tục hành chính về quản lý thủ tục đất đai. Anh có thể đến xem quy định về trình tự thủ này tại trụ sở UBND cấp xã hoặc Văn phòng đăng kí đất đai tại cấp huyện.
evaonha , Nữ - 32 TuổiXin cho biết các khoản mà tôi phải trả khi làm thủ tục đổi GCNQSD đất? Ngoài những khoản đó, tôi có phải trả thêm tiền dịch vụ nào khác nữa hay không?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Ngoài các khoản phí chính thức cho việc cấp đổi giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo quy định của UBND cấp tỉnh thì người đi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận không phải trả thêm bất kỳ một loại phụ phí nào. Nếu ở địa phương nào đó có yêu cầu thêm các khoản phí khác là vi phạm pháp luật.
Lê thị Lam , Nữ - 46 TuổiTôi mua 1 lô đất trong khu dư án . Khi làm hợp đồng tôi đã hỏi kỹ và phía công th đồng y chỉ đứng tên tôi/hop dong nay đa ký cách đây 2 năm . Nhưng mới gần đây phía công ty gọi và yêu cầu tôi bổ sung chứng minh nhân dân của chồng tôi để làm sổ đỏ . Cho tôi hỏi nếu sổ đỏ lấy tên mình tôi có được không, căn cứ thông tư hướng dẫn nào để tôi có cơ sở làm việc với chủ đầu tư
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Việc mua nhà này xảy ra sau hôn nhân thì buộc phải ghi cả tên vợ và chồng trên GCNQSD đất, trừ trường hợp một bên có văn bản đề nghị cấp theo tên của người kia. Việc này không phụ thuộc vào công ty BĐS. Đối với công ty có thể chỉ đứng tên một người hợp đồng đại diện nhưng GCNQSD đất phải đứng 2 tên. Trong trường hợp này công ty yêu cầu CMT của chồng có cả 2 tên là công ty làm đúng pháp luật.
Nếu chị muốn cấp 1 tên của chị, chị cần có 1 văn bản của chồng đề nghị đây là tài sản riêng của vợ tôi và cấp GCNQSD đất đứng 1 tên của vợ.
Thanh Duong, Nam - 33 tuổiTôi muốn thay đổi nội dung trong sổ đỏ có cả tên vợ tôi trong đó được không ạ hiện nay sổ của tôi chỉ có tên tôi đứng tên trên bìa đỏ. Nếu được thì thủ tục phải làm những gì ạ. Xin cảm ơn
Ông Phạm Văn Thành: Văn phòng cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND Huyện có trách nhiệm thực hiện yêu cầu đổi sổ đỏ cho mọi người dân. Bạn có thể gặp cán bộ địa chính xã để được hướng dẫn chuẩn bị các loại giấy tờ biểu mẫu có liên quan trước khi gặp cán bộ có trách nhiệm tại Văn phòng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở huyện. Mức phí nộp để thực hiện cấp đổi sổ đỏ phụ thuộc vào quy định của các địa phương.
Nguyễn Thùy , Nữ - 50 TuổiXin chào các chuyên gia, Vợ chồng tôi lấy nhau được 30 năm, có tiết kiệm được một khoản tiền. Năm vừa qua chồng tôi có mua mảnh đất. Vậy sổ đỏ đứng tên người chồng có hợp pháp không hay phải cả hai vợ chồng?
Bà Trần Thị Minh Châu: Đây là mảnh đất vợ chồng chị có được trong thời kì hôn nhân, có sự đóng góp công sức của cả hai vợ chồng vì vậy, theo quy định của khoản 4, điều 98 Luật Đất đai 2013, GCNQSD đất phải mang cả họ tên vợ và họ tên chồng. Trừ trường hợp hai vợ chồng chị cùng thỏa thuận để mảnh đất chỉ đứng tên chồng chị.
Hang Ha , Nữ - 36 TuổiHai vợ chồng tôi đi vay tiền ngân hàng nhưng ngân hàng bảo chồng tôi là người vay, còn tôi chỉ là người thừa kế do GCNQSD đất chỉ ghi tên chồng tôi. Nay tôi muốn bình đẳng với chồng, có trách nhiệm và nghĩa vụ chung trong các khoản vay thì phải làm gì?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Phương án tốt nhất là đổi lại giấy chứng nhận từ giấy với một tên chồng thành giấy chứng nhận có cả tên vợ và chồng. Lúc đó ngân hàng sẽ phải làm thủ tục cho vay mà cả hai đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Trong trường hợp chưa đổi được giấy chứng nhận thì chị cần phải nói với ngân hàng đây là giấy cấp không theo đúng quy định của pháp luật là ghi cả tên vợ và tên chồng, vậy ngân hàng phải giải quyết như trường hợp trên giấy có ghi cả hai tên.
nguyen minh lan , Nữ - 45 TuổiTôi kết hôn năm 1994, bố mẹ tôi để cho tôi 1 căn nhà chung cư. Tôi muốn làm thủ tục sở hữu tài sản riêng thì phải làm gì. Xin cảm ơnGS. TSKH Đặng Hùng Võ: Trường hợp này căn hộ chung cư đó là tài sản riêng của chị vì chị được tặng cho trực tiếp từ bố mẹ. Đương nhiên không phải là tài sản của chồng chị. Nhưng thời điểm nhận tặng cho và kết hôn cùng một lúc, nên chị cần làm giấy tờ nhận căn hộ này độc lập với chuyện kết hôn sao cho tài sản được coi là hình thành trước hôn nhân. Đối với chồng chị, chị cũng phải nói rõ điều này. Sự thực phụ nữ VN thường hay ngại nói đến tài sản, nhưng đây là điều cần làm rõ và chúng ta đừng ngại. Đây là cách thức tốt nhất, minh bạch nhất để đảm bảo quyền lợi của mình.
Minh Thùy , Nữ - 28 TuổiĐã có các văn bản Luật đảm bảo quyền bình đẳng của nam và nữ, của vợ và chồng trong gia đình. Vậy sao không có quy định bắt buộc phải ghi tên vợ và chồng trên GCNQSD đất mà chỉ ghi khi có yêu cầu?
GS. TSKH Đặng Hùng Võ: Hiện nay pháp luật đã quy định phải ghi cả tên vợ và tên chồng trên giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng. Như vậy quan niệm của bạn về việc chỉ 'ghi tên vợ và chồng trên GCNQSD đất mà chỉ ghi khi có yêu cầu" là không đúng. Tất nhiên ở một số địa phương, cán bộ quản lý cũng có quan niệm tương tự như bạn, gây ra nhiều lộn xộn trong việc thực hiện quy định ghi cả tên vợ và chồng trên giấy chứng nhận. Từng bước chúng ta sẽ làm cho các địa phương thực hiện đúng các quy định này của pháp luật.
Do thời gian giao lưu có hạn, lượng câu hỏi bạn đọc gửi đến quá lớn, nên một số thắc mắc chưa được giải đáp, VietNamNet đã chuyển các câu hỏi còn lại của quý vị đến các khách mời.
Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị!

VietNamNet

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

NHỮNG CÂU NÓI HAY VỀ TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN

Chọn vợ đừng có đề cao.
Kẻo khi lấy được, kêu gào ai hay?
Vợ chồng phải biết chung tay.
Cùng nhau giúp đỡ dựng xây gia đình.
Đồng lòng, đồng sức, đồng tình
Khó khăn đến mấy chúng mình vượt qua.

Lấy rồi không được kêu ca.
Cùng nhau góp ý mới là tri âm.
Trải qua sóng gió ầm ầm.
Ai là người vẫn lặng thầm bên ta?
Tri âm, tri kỉ của ta.
Ân cần chăm sóc, mặn mà tình thương.
Vất vả một nắng hai sương.
Chính là người vợ phi thường của ta.


 

Đau..... là để học cách lớn lên.

Thất bại..... là để học cách thành công.

Yêu thương...... là để học cách hi sinh.

Chết...... là để học cách yêu cuộc sống.

Và . . .
.
Sống...... là để học cách chấp nhận tất cả.
.
Nước mắt cuối cùng lại trở thành món quà vô giá cho những thứ người ta định nghĩa là thử thách.

CƠ HỘI THỰC HÀNH NGHỀ LUẬT

KINH NGHIỆM VÀ CƠ HỘI NGHỀ LUẬT
Thưa các Luật sư và các bạn đang trên đường trở thành luật sư!
Từ năm 1999 đến 2001, khi tôi bắt đầu con đường trở thành luật sư. Với kiến thức ra trường không viết nổi một lá đơn khởi kiện, không soạn được một công văn hoàn chỉnh và không kinh nghiệm nghề nghiệp. Khi tôi đi xin việc tại các VPLS hoặc xin làm ở các doanh nghiệp, điều đầu tiên họ hỏi là kinh nghiệm và khả năng của tôi thế nào.
Hiện nay, các sinh viên luật đến VP của tôi cũng không khá hơn mấy so với tôi ngày trước, dù họ có bằng cử nhân luật loại giỏi. Cái họ tích luỹ được trong mấy năm học là một mớ các lý thuyết hỗn độn về các ngành luật chung chung. Một số người đã học xong lớp đào tạo luật sư có khá hơn chút nhưng vẫn chưa thể viết một bài bào chữa hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, có một số bạn trẻ đã có tư duy tốt hơn. Họ đã đi xin học việc ở các VPLS, Công ty luật và đi tham dự các phiên toà. Cái họ tích luỹ đc là những kim nghiệm mà trong trường đại học không giảng dạy. Họ sẽ tự tin khi đi xin việc sau khi ra trường.
Tôi có một ý tưởng cho các bạn như sau:
1. Các bạn hãy tập hợp thành các nhóm từ 10 người trở lên để cùng nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Một tuần một buổi, các bạn lựa chọn chủ đề rồi mời các luật sư có kinh nghiệm đến để trao đổi. Hoặc mời một LS sư nào đấy có kinh nghiệm đến giảng về một chủ đề mà các bạn lựa chọn.
2. Các bạn tự lựa chọn một chủ đề hoặc một hồ sơ vụ án nào đó để chuẩn bị tranh luận. Mỗi bạn chuẩn bị một tham luận riêng của mình để trình bày. Đến cuối tuần các bạn tổ chức hội thảo và mời các LS giỏi hoặc giáo viên luật đến để nhận xét các tham luận của mình....
3. Nơi tổ chức các buổi hội thảo.
Các bạn có thể mượn một hội trường của một cơ quan nào đó. Hiện nay các tổ dân phố đều có các nhà sinh hoạt văn hoá, các bạn có thể tự liên hệ để mượn và trả tiền điện nước cho họ.
Nếu cao cấp hơn, có rất nhiều các quán cafe có phòng hội thảo, có điều hoà và máy chiếu, họ chỉ thu một buổi khoảng 500k điều hoà và máy chiếu, còn cafe ai uống gì thì tự trả.
4. Thực tiễn
Các bạn có thể tổ chức việc đi tư vấn miễn phí cho nhân dân. Hiện nay có rất nhiều các hội như: hội cựu chiến binh; Hội Phụ nữ; Hội nông dân và các đoàn thể khác... Các bạn lựa chọn chủ đề tư vấn như: Tư vấn việc lập di chúc cho Hội người cao tuổi, tư vấn về hôn nhân và gia đình, vấn đề bạo hành gia đình cho Hội Phụ nữ; Tu vấn các chế độ hưu trí, chế độ bảo hiểm; tư vấn các chín sách đất đai cho hội nông dân....
5. Kết quả thu được.
Các bạn sẽ có một kinh nghiệm thực tiễn, khi đi xin việc hoặc hoạt động riêng thì các bạn sẽ tự tin hơn.
Các luật sư được các bạn mời đến giảng bài có thể sẽ lựa chọn các khuôn mặt tiêu biểu để về làm cho họ với mức lương ưu đãi. Hiện nay các tổ chức hành nghề luật thiếu nhân lực có kinh nghiệm. Điều quan trọng nữa là các bạn có thể tự lập nghiệp sau khi ra trường mà không cần bố mẹ chu cấp, không cần mất mấy trăm triệu để xin vào các cơ quan nhà nước.
Tôi sẵn sàng trợ giúp cho các bạn trong khả nếu các bạn cần.
Các bạn cũng có thể xin tài trợ từ các Tổ chức hành nghề LS để tổ chức hội thảo.
Trân trọng.
TTN

ÁN OAN ÔNG CHẤN

Vụ làm oan ông Nguyễn Thanh Chấn: ‘Không thể chỉ một người chịu trách nhiệm’
(PL)- Bộ trưởng Bộ Công an, viện trưởng VKSND Tối cao và chánh án TAND Tối cao đã hứa trước Quốc hội sẽ xử lý nghiêm khắc những người gây ra oan, sai.
LTS: Lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng Việt Nam, một thẩm phán TAND Tối cao xử phúc thẩm làm oan người vô tội đã bị khởi tố. Pháp Luật TP.HCM đã trao đổi với đại biểu Quốc hội Lê Thị Nga, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, xung quanh chuyện này.
Trả lời phỏng vấn của Pháp Luật TP.HCM, bà Lê Thị Nga nói:
+ Việc kết tội oan ông Nguyễn Thanh Chấn đặt trong bối cảnh Hiến pháp mới đề cao vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân, các nghị quyết về cải cách tư pháp cũng đang được triển khai một cách khẩn trương. Đồng thời, áp lực của Quốc hội, của cử tri, của dư luận về việc xem xét trách nhiệm của người gây ra oan, sai là rất lớn. Bộ trưởng Bộ Công an, viện trưởng VKSND Tối cao, chánh án TAND Tối cao cũng đã hứa trước Quốc hội sẽ xử lý nghiêm khắc những người có lỗi gây ra oan, sai. Tôi cho rằng việc xử lý, truy cứu trách nhiệm hình sự các cán bộ làm oan trong vụ án này là thể hiện sự tích cực và nghiêm túc của các cơ quan có thẩm quyền, đáp ứng yêu cầu của Quốc hội và cử tri.
Trách nhiệm của những người liên quan
. Phóng viên: Khi xảy ra án oan, việc cả kiểm sát viên, điều tra viên và thẩm phán chủ tọa phiên tòa phúc thẩm đều bị khởi tố là việc chưa từng xảy ra. Vì sao vụ Nguyễn Thanh Chấn làm được điều này, thưa bà?
+ Theo tôi, đầu tiên dễ nhận thấy là sai ở đây khá rõ, đến mức qua thông tin trên báo chí thì ngay cả người không được đào tạo về luật cũng thấy sai rồi. Chẳng hạn, việc cơ quan tố tụng đã sử dụng tình tiết xác định kích thước bàn chân ông Chấn “gần đúng” với dấu vết bàn chân thu thập được tại hiện trường, ông Chấn có nhiều chứng cứ ngoại phạm nhưng không được xem xét kỹ, việc thu giữ và nhận dạng hung khí gây án có nhiều mâu thuẫn... Cho nên sẽ không quá khó khăn khi quy trách nhiệm về mặt chủ quan cho những người tiến hành tố tụng.
. Tại phiên giải trình về việc chống bức cung, nhục hình, bà đã đặt vấn đề về việc có hay không có việc bức cung, nhục hình trong vụ án oan của ông Chấn. Câu trả lời của lãnh đạo VKSND Tối cao là có nhục hình, chưa phát hiện thấy bức cung, điều tra viên thực hiện việc dùng nhục hình đã chết nên không thể truy cứu trách nhiệm hình sự. Bà có hài lòng với câu trả lời nhận được không?
+ Thực sự, tôi chưa thỏa mãn với câu trả lời đó. Trong vụ án này, một câu hỏi lớn chưa trả lời được là: Với tình trạng sức khỏe tâm thần bình thường, tại sao ông Chấn trong nhiều bản cung lại nhận tội mà mình không thực hiện trong khi ông thừa hiểu rằng việc nhận tội đó có thể dẫn đến bị pháp luật tước đoạt mạng sống hoặc bị phạt tù rất nặng? Từ đó tôi đặt ra nghi vấn về việc có bức cung, nhục hình. Và với một vụ án đặc biệt nghiêm trọng như thế thì theo quy định hiện hành, không thể chỉ có một điều tra viên điều tra và do đó không thể chỉ có một người chịu trách nhiệm. Tôi cho rằng cần kiểm tra lại hồ sơ để làm rõ những ai tham gia điều tra vụ án này? Trách nhiệm của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, của viện trưởng, phó viện trưởng VKS thế nào? Dẫu thời gian xảy ra vụ việc đã lâu, bối cảnh hỏi cung chỉ có điều tra viên và ông Chấn nên sẽ khá khó khăn cho cơ quan điều tra của VKSND Tối cao. Nhưng chúng tôi cũng đề nghị cần xem xét kỹ hơn những thông tin mà ông Chấn và luật sư nêu ra để làm rõ, tránh bỏ lọt tội phạm.
Ông Nguyễn Thanh Chấn trong ngày được trả tự do. Ảnh: VIẾT THỊNH
Quá coi trọng lời nhận tội
. Thưa bà, trong vụ việc này điều khiến dư luận bức xúc là những cái sai mà đến những người không biết luật cũng thấy, như bà vừa đề cập. Như vậy, ở đây có câu chuyện về việc tuân thủ các quy định của BLTTHS của những người tiến hành tố tụng?
+ Vụ án Nguyễn Thanh Chấn cũng đặt ra hàng loạt câu hỏi khác: Tại sao xảy ra việc kết tội oan ông Chấn? Lỗi do người áp dụng pháp luật là gì?
Thông tin cho thấy hồ sơ vụ án này có những bản cung ông Chấn nhận tội. Các cơ quan tố tụng sau giai đoạn điều tra đã quá coi trọng lời nhận tội mà không xem xét kỹ những chứng cứ gỡ tội khác. Về cơ bản, ở giai đoạn sơ thẩm, họ đã lấy những lời nhận tội đó làm chứng cứ chính để kết tội ông Chấn, trong khi Điều 72 BLTTHS quy định rất rõ: “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”. Những người tiến hành tố tụng đã không tuân thủ quy định này.
Cần nghiên cứu về quyền im lặng
. Theo bà, tố tụng hình sự hiện hành đang có vấn đề ở đâu? Cần làm gì để chống oan, sai, chống bức cung, nhục hình?
+ Để thực hiện tốt những nhiệm vụ của tố tụng hình sự thì không chỉ cần một BLTTHS tốt. Chúng ta phải xem lại ngay cả những quy định pháp luật liên quan.
Về tạm giữ, tạm giam, liên quan đến việc lấy lời khai của nghi can, quy định thế nào để bảo đảm sự minh bạch khi lấy lời khai, trong bối cảnh chỉ có điều tra viên và nghi can, không có kiểm sát viên, luật sư? Vậy khi người bị giam giữ khai bị bức cung, nhục hình như trường hợp ông Chấn thì lấy gì để chứng minh? Chúng ta sẽ không có gì để bảo vệ người bị tạm giữ, tạm giam cả. Có cần quy định bắt buộc có camera giám sát các cuộc hỏi cung?
Để chống bức cung, nhục hình thì cơ quan quản lý giam giữ phải thực sự độc lập với cơ quan điều tra. Tuy nhiên, thực tế tại một số huyện thì phó trưởng công an huyện phụ trách công tác điều tra thường kiêm phụ trách luôn nhà tạm giữ. Kể cả tách bạch được hai chức danh này thì cả hai “ông” điều tra và quản lý giam giữ vẫn là người cùng một cơ quan, vẫn có một thủ trưởng chung là trưởng công an huyện. Và công an tỉnh cũng tương tự. Như vậy khó có thể nói rằng đã độc lập giữa cơ quan điều tra và cơ quan quản lý giam giữ trên thực tế.
Quy định về trách nhiệm của VKS trong giai đoạn trước khởi tố trong Luật Tổ chức VKS để ràng buộc trách nhiệm của VKS khi xảy ra bức cung, nhục hình hoặc bỏ lọt tội phạm.
. Qua vụ này, bà có rút ra vấn đề gì liên quan đến các quy định của tố tụng hình sự?
+ Quy định về thẩm quyền của công an xã, phường trong việc phối hợp xử lý tin báo, tố giác. Hiện pháp luật không quy định công an xã, phường có thẩm quyền điều tra nhưng thực tế họ đang tiến hành một số hoạt động mang tính chất điều tra ban đầu. Đáng lưu ý, công an xã là lực lượng bán chính quy, không được đào tạo cơ bản nhưng có những thẩm quyền lớn liên quan đến tố tụng hình sự theo Pháp lệnh Công an xã nên đã xảy ra một số vụ việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe nghi can.
Ngoài ra, các quy định khác trong BLTTHS về quyền của luật sư, về giấy chứng nhận bào chữa, về quyền không khai báo (hay là quyền im lặng cho đến khi có luật sư)... cũng rất cần được nghiên cứu, xem xét qua vụ án này.
Từ vụ án này, tôi cho rằng chúng ta cần nhìn trên bình diện rộng để xem tổng thể, từ đó xác định vấn đề gì do áp dụng pháp luật sai và bài học gì rút ra để điều chỉnh pháp luật nhằm ngăn chặn những vụ việc tương tự.
. Xin cảm ơn bà.
THU NGUYỆT thực hiện
Chưa hủy hai bản án dân sự liên quan đến ông Chấn
Ngày 2-10, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, luật sư Hoàng Minh Hiển (Đoàn Luật sư TP Hà Nội, người được chỉ định bào chữa cho bị cáo Lý Nguyễn Chung) cho biết: Trong vụ án Nguyễn Thanh Chấn, cơ quan tố tụng đã tuyên hủy hai bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm nhưng hiện nay vẫn còn hai bản án dân sự đối với ông Chấn vẫn còn hiệu lực pháp luật.
Theo luật sư Hiển, bản án hình sự phúc thẩm của Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội tuyên y án chung thân đối với ông Chấn về tội giết người nhưng về trách nhiệm dân sự, HĐXX tuyên hủy phần cấp dưỡng của ông Chấn đối với con trai thứ hai của nạn nhân Nguyễn Thị Hoan (do tại thời điểm đó chưa xác định được ngày tháng năm sinh của cháu). Theo đó, phần trách nhiệm dân sự sẽ được xem xét trong một vụ án khác.
Ngày 30-9-2004, ông Chấn phải tham gia vụ kiện dân sự (do TAND huyện Việt Yên xét xử) để giải quyết vấn đề nêu trên. Tòa này tuyên ông Chấn phải cấp dưỡng cho con trai thứ hai của nạn nhân đến khi cháu tròn 18 tuổi. Ông Chấn sau đó làm đơn kháng cáo. Bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Bắc Giang sau đó tiếp tục tuyên y án sơ thẩm. (Thời gian qua ông Chấn đã không chấp hành bản án dân sự này vì cho rằng mình bị oan).
Cũng theo luật sư Hiển, do phần án hình sự, Hội đồng Tái thẩm TAND Tối cao đã mở phiên tòa tái thẩm tuyên hủy hai bản án phúc thẩm và sơ thẩm đối với ông Chấn nên sẽ có một phiên tòa tương tự để tuyên hủy hai bản án dân sự nêu trên. Tuy nhiên, ông Hiển cho rằng căn cứ vào tính chất của vụ án, trường hợp này nên mở phiên tòa theo thủ tục giám đốc thẩm chứ không phải là tái thẩm.
Đ.MINH
Còn thời hiệu truy cứu người làm oan ông Chấn
Thông tin báo chí chỉ nêu ông Chiêm bị khởi tố theo Điều 285 BLHS mà không nói rõ khởi tố theo khoản nào của điều luật. Tuy nhiên theo chúng tôi, trường hợp gây oan, sai này có thể được coi là phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy có khả năng ông Chiêm sẽ bị xem xét ở khoản 2 Điều 285, có mức án cao nhất là 12 năm tù.
Theo khoản 3 Điều 8 BLHS thì với mức án cao nhất này, khung hình phạt nói trên thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Và với tội phạm rất nghiêm trọng thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 15 năm. Do vậy việc truy cứu ông Chiêm là không sai.
Luật sư NGUYỄN HỒNG HÀ, Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa

TRANH CHẤP THỪA KẾ

Kỹ năng giải quyết vụ án: “Tranh chấp thừa kế tài sản” và một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung
Tranh chấp dân sự là loại tranh chấp chiếm số lượng lớn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại các Tòa án hiện nay. Quan hệ dân sự diễn ra hằng ngày trong cuộc sống xung quanh chúng ta, mâu thuẫn về những vấn đề nảy sinh trong nó là điều không thể tránh khỏi. Những mâu thuẫn đó trở nên căng thẳng và nặng nề hơn khi nó bắt nguồn giữa những người thân thích , những người chung huyết thống. Ở đây chúng ta đang nói đến tranh chấp về thừa kế - một dạng tranh chấp khá phổ biến và phức tạp trong xã hội, liên quan đến nhiều người, nhiều vấn đề như di sản của người đã mất, về quyền nhân thân và bao hàm cả yếu tố truyền thống, tình cảm của những người tham gia vào tranh chấp đó, đòi hỏi Thẩm phán cần chuẩn bị một số kỹ năng cần thiết để có thể giải quyết vụ án một cách hợp tình, hợp lý và đúng pháp luật. Nhìn chung, tranh chấp thừa kế đòi hỏi Thẩm phán cần có những kỹ năng vừa sắc sảo vừa tế nhị mới có thể xử lý tốt những mâu thuẫn, bởi thừa kế ngoài vấn đề liên quan đến tài sản của người đã mất và ở một góc độ khác thì ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm của những người trong cuộc, nếu xử lý không khéo sẽ làm trầm trọng thêm mâu thuẫn, phá vỡ những tiêu chí về đạo đức, mỹ tục đã hình thành qua nhiều thế hệ dòng tộc. (Thẩm phán Tấn Chinh - TAND Quận 10)
I.Kỹ năng giải quyết vụ án: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở…". Trên nền tảng đó và nhiều văn bản pháp luật đã không ngừng hòan thiện các quy định về thừa kế nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Tuy nhiên, do những trở ngại khách quan nên công dân vẫn chưa nắm bắt và hiểu hết các quyền và nghĩa vụ, cũng như các quy định pháp luật về thừa kế nên dẫn đến nhiều tranh chấp vẫn tồn tại. Kỹ năng của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án có vị trí quan trọng, một mặt là cầu nối giúp các đương sự dung hòa lại với nhau, mặt khác chỉ ra những qui định của pháp luật để các đương sự hiểu được bản chất pháp lý vấn đề tranh chấp của mình, trên cơ sở đó hướng các đương sự đi đến một sự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, nếu sự thỏa thuận không thành, thì cần đến một phán quyết của Tòa án, nhưng cách hành văn trong phán quyết thế nào cho phù hợp với những quy định của pháp luật và để rõ ràng trong việc thi hành án sau này, thì còn những quan điểm trái chiều cần có sự hướng dẫn để tạo sự thống nhất.
Những quan điểm tồn tại:
Bộ luật Dân sự 2005 không định nghĩa về thừa kế nhưng có thể hiểu theo nghĩa chung nhất thì thừa kế là sự chuyển dịch tài sản và một số quyền khác từ người chết sang những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc được quy định từ Điều 646 đến Điều 673 của Bộ luật Dân sự 2005 và thừa kế theo pháp luật được quy định từ Điều 674 đến Điều 680 của Bộ luật Dân sự 2005.
Tranh chấp thừa kế là sự mâu thuẫn giữa những người có mối quan hệ mật thiết với nhau hoặc ít nhiều có sự liên quan nhất định với người đã chết, đó có thể là tranh chấp về quyền thừa kế, về thanh toán và phân chia di sản hoặc về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại…
Trong bài viết này, tác giả bài viết nêu nên một vụ án cụ thể và đang tồn tại một số quan điểm xung quanh cách tuyên án.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B là vợ chồng hợp pháp chung sống với nhau có 03 người con chung là: Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn Đ. Ngoài ra ông A còn chung sống không làm đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị S sinh được 02 người con chung là Nguyễn Văn E và Nguyễn Thị F. Ông A và bà B có tài sản chung là nhà đất I. Năm 2005 ông A chết. Ngày 18/02/2013 Nguyễn Văn E có mẹ là bà Nguyễn Thị S đại diện theo ủy quyền khởi kiện bà Trần Thị B để yêu cầu chia thừa kế tài sản trên. Tại Tòa bà S yêu cầu chia thừa kế bằng tiền. Bị đơn bà B và các con của bà B không đồng ý chia.
Liên quan đến vụ án trên, tồn tại quan điểm về hai cách tuyên án như sau:
- Quan điểm 1 về cách tuyên án: “…chia trị giá nhà đất cho các đương sự theo kỷ phần tại thời điểm thi hành án…thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền”.
- Quan điểm 2 về cách tuyên án: “…phân chia di sản thừa kế bằng tiền hoặc bằng hiện vật, trường hợp các đương sự không thỏa thuận được thì di sản sẽ được bán để chia theo quy định tại khoản 2 Điều 685 Bộ luật Dân sự…giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá di sản và ưu tiên cho những người được hưởng di sản thừa kế được quyền mua lại”.
Quan điểm tác giả bài viết đồng ý với quan điểm 1 bởi những lý do sau:
Khoản 2 Điều 685 của Bộ luật Dân sự có thể hiểu dùng để áp dụng trong trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp cụ thể nêu trên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của phía nguyên đơn yêu cầu chia bằng tiền, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của phía bị đơn không đồng ý chia. Đối tượng được hưởng di sản thừa kế trong trường hợp này là 06 người, nên phương án chia về diện tích là không thể, hơn nữa đương sự không có yêu cầu chia diện tích (Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự qui định về: Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự); do vậy Tòa án tuyên xử chia cho các đương sự được hưởng trị giá nhà đất tại thời điểm thi hành án là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, cũng như phù hợp với Điều 6 của Luật Thi hành án dân sự (tại giai đoạn thi hành án các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án).
Việc tuyên trong bản án giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi nhà đất trên để chia cho các đương sự tại thời điểm thi hành án, thì sẽ gặp khó khăn cho các đương sự. Bởi quy định tại Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự là: nếu đương sự không tự nguyện thi hành án, thì bị cưỡng chế để thi hành. Nếu tuyên xử giao nhà đất trên cho thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi để thi hành án là đã vô tình tướt đoạt quyền tự nguyện thi hành án của đương sự như quy định Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Vì cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan thi hành bản án, quyết định của Tòa án, nếu tuyên án: giao cơ quan thi hành án dân sự phát mãi để chia tiền cho các đương sự, về nguyên tắc thi hành án dân sự phải thi hành đúng như nội dung bản án của Tòa án đã tuyên và nếu như vậy tại giai đoạn thi hành án, phía bị đơn có tiền để trả và xin không phát mãi nhà thì liệu cơ quan thi hành án dân sự có thể làm trái phán quyết của Tòa án là không phát mãi nhà không ? và ngược lại như ví dụ sau đây: ông A cho ông B vay 01 tỉ đồng, đến hạn ông B không trả nợ, ông A kiện ông B ra Tòa. Tòa án tuyên ông B trả nợ cho ông A. Bản án có hiệu lực thi hành. Ông B ngoài căn nhà đang ở không còn tài sản nào khác; không lẽ trong trường hợp này Tòa án không tuyên giao thi hành án dân sự phát mãi nhà của ông B để thu hồi nợ trả cho ông A thì cơ quan thi hành án không được phát mãi nhà của ông B trong trường hợp này ?, việc phát mãi tài sản để thi hành án là thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự, không phụ thuộc vào phán quyết của Tòa án là yêu cầu phát mãi thì mới được phát mãi; do vậy khi tuyên án đối với trường hợp trên, chỉ lên tuyên: Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Không cần thiết phải tuyên chỉ định phát mãi tài sản như quan điểm thứ 2 nêu trên.
* Những vấn đề cần lưu ý khác khi nghiên cứu hồ sơ: “tranh chấp về thừa kế”:
Thừa kế có mối quan hệ không thể tách rời với Luật Hôn nhân và Gia đình, đặc biệt trong giai đoạn đất nước có chiến tranh thì vấn đề ly tán, hôn nhân cũng tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, sẽ là thiếu sót nếu Thẩm phán không tìm hiểu kỹ các quy định điều chỉnh vấn đề hôn nhân trong giai đoạn lịch sử đó, cũng như các quy định mới sau này.
Trong trường hợp một người sinh sống ở miền nam có nhiều vợ trước ngày 25/3/1977 (ngày ban hành Nghị quyết 76/CP của Chính phủ, hướng dẫn thi hành và xây dựng pháp luật thống nhất cho cả nước) hướng dẫn tại Điểm a, Khoản 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thừa kế năm 1990: “Trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 25/3/1977) thì tất cả người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng.
Đối với cán bộ, bộ đội ở miền Nam đã có vợ (có chồng) ở miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954 lại lấy vợ hoặc chồng khác ở miền Bắc, theo hướng dẫn tại Thông tư số 60/DS ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao, đây là những trường hợp ngoại lệ, có vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhưng pháp luật vẫn công nhận hôn nhân hợp pháp của họ. Vì vậy, khi xác định thời điểm chung sống là cơ sở để xác định diện và hàng thừa kế.
Đối với trường hợp chưa đăng ký kết hôn, hôn nhân không có đăng ký kết hôn nhưng không vi phạm các điều kiện kết hôn khác, Thẩm phán cần thu thập chứng cứ nhằm xác định thời điểm chung sống:
+ Trường hợp quan hệ hôn nhân không có đăng ký kết hơn xác lập trước ngày 3/01/1987 thì thời điểm mở thừa kế không kể khi nào, người chồng người vợ còn sống đều được hưởng thừa kế. Chứng cứ trong trường hợp này có thể là ảnh chụp, lời xác nhận của họ hàng nội tộc hai bên…
+ Quan hệ hôn nhân xác lập từ ngày 3/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001, Thẩm phán cần xác định thời điểm mở thừa kế của một bên trước ngày 01/01/2003 thì bên vợ hoặc chồng còn sống cũng được hưởng thừa kế.
+ Quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và thừa kế của một bên mở sau ngày 01/01/2003, trường hợp này Thẩm phán cần thu thập chứng cứ là bản danh sách xin đăng ký do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập trước ngày 01/01/2003.
Tài sản khi chia thường không trùng khớp với di sản để lại, có sự hao mòn nhất định, cùng sự thất lạc các giấy tờ, đòi hỏi Thẩm phán khi xác định cần hết sức cẩn thận và chi tiết, về giá cả tài sản ở thời điểm hiện tại, về các biên bản thẩm định cũng như các khả năng sinh lợi của tài sản (đặc biệt là bất động sản).
Do đó, trong giai đoạn thu thập chứng cứ, Thẩm phán cần vận dụng hết những kỹ năng của mình để có hướng giải quyết vụ án tốt nhất. Trong khi nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy các chứng cứ mà đương sự cung cấp chưa đầy đủ, thì Thẩm phán cần nhanh chóng yêu cầu đương sự cung cấp thêm tài liệu chứng cứ. Thẩm phán cũng có thể chủ động thu thập chứng cứ. Sau đó, cần sắp xếp một cách có hệ thống các tài liệu đã thu thập được, đặc biệt là các tài liệu quan trọng, có thể làm thay đổi nội dung vụ án. Giai đoạn này đòi hỏi Thẩm phán phải nhạy bén, cẩn thận cũng như phải làm việc với tinh thần và trách nhiệm cao nhất, có như thế mới hoàn thành tốt công việc của mình. Đạo đức nghề nghiệp cũng là vấn đề phải bàn tới ở đây, Thẩm phán không vì tư lợi mà tìm ra các chứng cứ không hợp pháp hoặc biết đương sự cung cấp chứng cứ giả nhưng vẫn không cảnh báo, điều này có thể làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án và vi phạm pháp luật hình sự.
II/ Một số kiến nghị sửa đổi bổ sung về chế định thừa kế
Điều 663 của Bộ luật Dân sự 2005 quy định vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho vợ, chồng cùng thể hiện được ý chí thống nhất trong việc định đoạt tài sản chung. Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện di chúc chung của vợ, chồng còn nhiều vướng mắc, bất cập, đặc biệt nó làm giới hạn quyền của chủ sở hữu trong việc định đoạt tài sản. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 664 Bộ luật Dân sự 2005 thì vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 664 Bộ luật Dân sự 2005 quy định việc sửa đổi, bổ sung, thay thế , hủy bỏ di chúc chung phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người chết trước thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung, di chúc liên quan đến phần tài sản của mình. Như vậy, trong trường hợp này, ý chí của người lập di chúc chung không thể độc lập trong việc định đoạt tài sản, kể cả phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng không đồng ý. Để đảm bảo quyền tự do định đoạt của cá nhân, đảm bảo di chúc được lập phù hợp với ý chí đích thực, tự nguyện của mỗi bên vợ, chồng, bên cạnh việc quy định vợ, chồng cùng nhau thỏa thuận sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc chung, thiết nghĩ cũng cần phải thừa nhận quyền tự do của mỗi bên vợ, chồng trong việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung trong phạm vi phần quyền của mình trong khối tài sản chung, do không được sự đồng ý của bên kia. Đồng thời với việc thừa nhận mỗi bên vợ hoặc chồng có quyền tự do sửa đổi, bổ sung nội dung di chúc chung trong phạm vi tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, luật cũng cần phải quy định hệ quả pháp lý của việc này, nhất là việc xác định thời điểm có hiệu lực, của từng phần di chúc chung sau khi di chúc chung đã bị sửa đổi, bổ sung.
Điều 668 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung như luật hiện hành sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước.
Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực, những người thừa kế của người chết trước sẽ không thể yêu cầu phân chia di sản của người chết đã được định đoạt trong di chúc chung và phần di sản liên quan tới phần nội dung di chúc chung bị vô hiệu, nếu có; hoặc trong trường hợp người vợ hay người chồng vẫn còn sống lâu hơn so với tuổi thọ của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước (như cha, mẹ của người chết trước, người thừa kế là con riêng chưa thành niên đang đau yếu cần có tiền để chữa bệnh…), làm những người này mất quyền được hưởng di sản. Do đó, cần tách quy định về di chúc chung thành một mục riêng nhằm đảm bảo tính đặc thù của các quy định này, đồng thời dự liệu đầy đủ các nội dung khác nhau của di chúc chung. Cụ thể, quy định về di chúc chung sẽ được thiết kế thành một mục riêng - mục 2 của Chương thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự 2005. Theo đó, Chương thừa kế theo di chúc sẽ có hai mục là: mục 1 quy định chung về di chúc và thừa kế theo di chúc; mục 2 quy định về di chúc chung của vợ, chồng. Bên cạnh đó, các quy định về di chúc chung của vợ chồng phải được quy định sao cho nhất quán với các quy định khác có liên quan.
Lĩnh vực pháp luật về thừa kế là lĩnh vực khá phức tạp, đòi hỏi người Thẩm phán phải vừa khéo léo, vừa sắc sảo, nhạy bén mới có thể giải quyết tốt vụ việc. Từ Bộ luật Dân sự 1995 đến Bộ luật Dân sự 2005 đã có những quy định sửa đổi tích cực nhằm hoàn thiện về lĩnh vực này, cho thấy sự phát triển không ngừng về chế định thừa kế. Sự phát triển đó suy cho cùng cũng bắt nguồn từ chính những nhu cầu và thực tế xã hội, những tranh chấp về thừa kế vẫn tồn tại với số lượng lớn, vẫn cần đến sự tận tâm, tận lực của các cấp, các ngành, đặc biệt là những Thẩm phán làm công tác xét xử án tranh chấp về thừa kế tài sản. Nhiệm vụ của người Thẩm phán là sứ mệnh cao quý với tinh thần trách nhiệm của mình, cần liên tục cập nhật những kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết để có kiến thức một cách tối ưu nhất.
Trên đây là một số kiến nghị sửa đổi về chế định thừa kế - một chế định quan trọng của pháp luật dân sự Việt Nam. Sự không ngừng hoàn thiện pháp luật, một mặt nhằm bắt kịp sự phát triển của xã hội, đồng thời tạo thuận lợi cho công dân cũng như những người áp dụng pháp luật, đặc biệt là Thẩm phán trong quá trình thu thập chứng cứ và xét xử vụ án - là việc làm cần thiết, góp phần vào sự phát triển của xã hội nói chung và sự phát triển của Tòa án nhân dân nói riêng./
http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/118?