Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

NHÀ VĂN LAN KHAI - TƯ LIỆU


12.05.2010
Trần Mạnh Tiến
Lan Khai, Nhà văn hiện thực xuất sắc (1)


LỜI GIỚI THIỆU
Với cuộc đời chưa tròn bốn mươi tuổi, để lại một di sản lớn về văn học, Lan Khai là một trong những nhà văn sung mãn nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông dường như sinh ra để làm tiểu thuyết giữa thời kỳ cách tân văn học mạnh mẽ nhất ở thế kỷ XX. Nhìn từ tiềm năng sáng tạo, đương thời nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Lan Khai là lão tướng trong làng tiểu thuyết đang gắng tìm đường mới”[1].

Cùng với những tài danh của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại (1930 - 1945) như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Vũ Bằng, Nam Cao... Lan Khai là nhà văn đã sớm tìm cho mình một hướng đi riêng, để góp mình cho nền tiểu thuyết tương lai. Đương thời, sự xuất hiện cây bút Lan Khai trên văn đàn là một hiện tượng đặc biệt từ nguồn gốc xuất thân đến hoạt động văn chương.

Với những truyện đường rừng, những tiểu thuyết tâm lý - xã hội, các tiểu thyết lịch sử, những thiên truyện ngắn và ký, lối tư duy sắc bén trong lý luận, phê bình và nghiên cứu, các công trình sưu tầm văn học, cùng năng lực dịch thuật tài hoa và những tác phẩm hội họa, đã đem đến cho nền văn nghệ dân tộc những màu sắc mới. Tất cả làm nên bức chân dung rõ nét về một nghệ sĩ giàu tiềm năng sáng tạo. Tên tuổi của ông từng vang bóng một thời trên văn đàn cả nước, nhưng hoạt động nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Lan Khai hơn nửa thế kỷ qua vẫn chưa toàn diện và hệ thống. Chúng ta không khỏi băn khoăn: Vì sao những tác gia nổi tiếng cùng thời như Trương Tửu, Trần Huy Liệu, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan, Thiều Quang... đã đề cao những sáng tác của Lan Khai; một số cây bút sau này lại nhìn nhận sai lệch về ông? Trên đường đi tới tổng kết những thành tựu văn nghệ của thế kỷ XX, từ cái nhìn khách quan, chúng ta sẽ thấy rõ những đóng góp to lớn của nghệ sĩ Lan Khai trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Như bao anh hoa tài thức trong lịch sử, mỗi con người đều có số phận riêng, cuộc đời của nghệ sĩ Lan Khai có thể xem như con thuyền nhỏ đi trên dòng thác lớn để tìm về bến đỗ. Dẫu biết rằng: “Tài hoa... cái lụy ngàn đời”, nhưng bước vào cái “nghiệp chướng văn chương” ông vẫn đi đến cùng trên con đường sáng tạo. Vì vậy những tác phẩm của Lan Khai là những đóng góp mới cho đất nước. Kỷ niệm lần thứ 100 năm ngày sinh của Lan Khai chúng ta cùng trở lại những chặng đường đã qua của người nghệ sĩ suốt đời say mê làm ra cái đẹp để dâng hiến cho đời.

I. Vài nét về thời đại, quê hương, gia đình và cuộc đời nghệ sĩ

Nhà văn Lan Khai tên thực là Nguyễn Đình Khải còn có các bút danh: Huệ Khai, Thục Oanh, Lâm Tuyền Khách, Lan, ĐKG… sinh ngày 24 tháng 6 năm 1906 tại Bản Luộc xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Thân phụ là Nguyễn Đình Chức (còn gọi cụ Lang Chức) sinh năm Canh Ngọ (1870) nguyên quán ở tỉnh Thừa Thiên - Huế. Cha ông là nhà Nho kiêm lương y. Thuở nhỏ, Nguyễn Đình Chức được song thân cho theo học chữ Nho và nghề thuốc gia truyền. Sống trong cảnh nước mất, Nguyễn Đình Chức cùng hai anh Nguyễn Đình Cả và Nguyễn Đình Liên hưởng ứng chiếu Cần vương ra Bắc tham gia vào nghĩa quân Hương Khê (Hà Tĩnh). Cuộc khởi nghĩa kết thúc (1895), thực dân Pháp ra lệnh truy nã những người khởi nghĩa, ba anh em phải hành trình lên thượng nguồn Việt Bắc, từ sông Hồng đến sông Lô rồi sông Gâm, tìm nơi nương náu đợi thời. Người anh thứ nhất lấy tên là Hoàng Đình Cả, anh thứ hai đổi thành Bàn Văn Liên, người em út cải là Ma Đình Chức. Người anh cả làm nghề nông tại thôn Hoàng Pháp thuộc tổng Trung Môn (ngoại vi tỉnh lị Tuyên Quang); người anh thứ hai làm nghề dạy võ và chữ Nho tại chân núi Cố làng Xuân Hòa trong tỉnh lị. Còn Nguyễn Đình Chức một mình lặn lội lên châu Chiêm Hóa thuộc lưu vực sông Gâm cách tỉnh lị về phía Đông Bắc chừng 70 km, chàng trai ấy được cộng đồng các dân tộc thiểu số che chở, rồi được một gia đình họ Lỗ ở bản Luộc cho chung sống trong nhà. Gia đình họ Lỗ có một người con gái đẹp người đẹp nết tên là Lỗ Thị Thục sinh năm Canh Thìn (1880). Mối tình của chàng trai xứ Huế với cô gái xứ Tuyên dần dần nhen nhóm. Cảm mến về đức tài của chàng trai nghĩa dũng, gia đình họ Lỗ và thôn bản đã làm lễ kết hôn cho đôi trai tài gái sắc đó. Một thời gian sau họ dựng cho đôi vợ chồng trẻ một căn nhà nhỏ ba gian; lưng tựa vào chân núi, cửa nhìn về phía tả ngạn có trái núi Thần soi mình xuống dòng sông Gấm. Ngày ngày, thầy đồ Chức ngồi dạy chữ thánh hiền cho con em thôn bản và trị bệnh cứu người, còn người vợ một mình lặn lội trong rừng sâu tìm cây thuốc quí. Tiếng lành đồn xa khắp trong vùng. Lỗ Thị Thục lại là người phụ nữ thuộc nhiều ca dao và truyện cổ dân gian, thích hát Then, hát Lượn. Sau này trong các trang tự truyện Lan Khai nhiều lần nhớ về người mẹ “có một dung nhan vô cùng êm ái... với đôi mắt bình tĩnh và thăm thẳm, với cái nụ cười nó làm cho những vật xung quanh như tươi sáng hẳn lên”[2].

Về người cha, nhà văn từng kể lại: “Cha tôi là một ông nhà Nho kiêm nghề lương y, tính thích uống rượu ngâm thơ và rất yêu say cảnh núi sông, hoa cỏ”[3]. Nhà Nho ấy là người từng trải, có vốn văn hóa uyên thâm và một tâm hồn phóng khoáng, sự nghiệp không thành đến nương mình ở chốn lâm tuyền. Ngôi nhà tranh nhỏ bé một thời từng là nơi dừng chân cho những bậc quốc sĩ trước khi xuất dương tìm đường cứu nước. Qua nhiều lần sinh nở gian nan, ông bà cho ra đời hai người con: Nguyễn Đình Khải (1906) và Nguyễn Thị Tuyết Nhung (1908). Cùng năm sinh đứa con đầu lòng, nghe Kinh Kỳ có Hội Duy Tân, ông đồ Chức lại xuôi dòng về tham gia vào Đông Kinh Nghĩa Thục. Sau một thời gian ngắn, thực dân Pháp đàn áp, Học hội tan rã, ông trở về xứ lâm tuyền cùng người vợ toàn tâm vào sự nghiệp cứu nhân độ thế. Hai vợ chồng đều tôn thờ Phật giáo. Thời thơ ấu, Lan Khai lớn lên trong một gia đình yêu cái đẹp và cái thiện cùng với môi trường sinh thái thiên nhiên hào phóng, sống gắn bó với cộng đồng các dân tộc thiểu số nhân hậu, thủy chung.

Tuyên Quang là một địa danh từ lâu đời nổi tiếng về tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hậu mát mẻ, là nơi có nhiều người đẹp và phong cảnh đẹp. Sách “Dư địa chí” (Nguyễn Trãi), “Đại đồng phong cảnh phú” (Nguyễn Hàng), “Hoàng Việt địa dư chí” (Phan Huy Chú), “Đại Nam Nhất thống chí” (Sử quán triều Nguyễn), “Tuyên Quang tỉnh phú” (Đặng Xuân Bảng), “Bài ký phong thổ tỉnh Tuyên Quang” (Nguyễn Văn Bân) v.v… đều cho thấy ưu thế của mảnh đất này về phong thổ và sản vật. Địa danh Chiêm Hóa có từ thời nhà Nguyễn, thời Lý - Trần có tên là châu Vị Long, thời Hậu Lê có tên là châu Đại Man. Từ xa xưa, đất Vị Long được các triều đại xem như một vị thế quan trọng, quan hệ mật thiết với vận mệnh của vương triều. Văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc từ thời Lý đã nói lên điều đó, trong bài Minh có những câu:

 Bốn mươi chín động

 Truyền mười lăm đời

 Non sông giữ vững

 Nhân ái giúp thời…

 Đất không bụi bậm

 Sương núi mịt mùng

 Người giỏi ra đời

 Đạo thời thống nhất

 (Đỗ Văn Hỷ dịch)

Nơi đây có cộng đồng các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Dao Tiền, Đại Bản, Hà Nhì, Pà Thẻn, Cao Lan... sống hòa hợp gắn bó từ lâu đời trong tiến trình lịch sử. Từ đây có đường sang Bắc Cạn, đi Cao Bằng, lên Hà Giang, sang Yên Bái và đường sông đi ngược về xuôi. Cái xứ sở mà Lan Khai cho rằng: “Phần nhân tạo luôn luôn có cơ bị lấn bởi phần thiên nhiên bao bọc tứ phía mà cái màu xanh xanh bất diệt không những thôi cả sang quần áo dân bản thổ lại còn ánh lên da mặt kẻ ngụ cư nữa”[4]. Đây cũng là nơi có nhiều phong tục tập quán lâu đời, nhiều làn điệu dân ca, các truyền thuyết và nhiều sự kiện lịch sử với các sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú của đồng bào các dân tộc thiểu số, đã lưu giữ nhiều kỷ niệm đẹp đẽ trong tâm hồn người nghệ sĩ Lâm Tuyền Khách sau này. Tại ngôi nhà nhỏ bên rừng, khi lên ba tuổi cậu bé Khải đã được người cha truyền dạy cho những con chữ thánh hiền đầu tiên trong Tam Thiên Tự, lên năm tuổi đã xuất hiện năng khiếu về hội họa. Năm lên sáu Khải được cha mẹ cho đến Trường tiểu học của châu lị Chiêm Hóa, người dạy chữ Quốc ngữ đầu tiên ở xứ sở lâm tuyền là nhà giáo Nguyễn Văn Bảng từ miền xuôi tới. Thầy rất yêu trò Khải và đặt mọi kỳ vọng vào đứa trẻ thông minh ham học đó. Trong tập Bút ký sau này Lan Khai đã hồi ức lại lời dặn dò cốt tủy của thầy- một nhà giáo yêu nước rất coi trọng Quốc văn, khi anh trở lại thăm nơi chôn nhau cắt rốn, thầy đã chọn câu nói nổi tiếng của một danh sĩ Pháp khắc sâu vào lòng Khải: “Một dân tộc dù mất quyền tự do, dù nô lệ mà còn giữ được tiếng nói tức là còn giữ được cái lợi khí tháo cũi, xổ lồng cho mình”[5]. Câu nói đó đã trở thành máu thịt suốt cuộc đời của nghệ sĩ Lan Khai.

Vào một buổi sáng mùa thu năm 1914, hai anh em Khải, Nhung theo cha mẹ xuôi dòng về khu phố Xuân Hòa thuộc tỉnh lị Tuyên Quang tới nơi ở mới. Đó là một ngôi nhà lá gồi năm gian hai chái, lưng dựa vào núi Cố, mặt hướng về phía sông Lô gần với ngôi đình Xuân Lôi, tiếp với khu mỏ than chạy dọc bờ sông, đối diện bên tả ngạn là mỏ kẽm Chàng Đà. Thực dân Pháp đã tiến hành khai thác các khoáng sản từ những năm đầu thế kỷ XX (1905). Gia đình ông lang Chức nằm giữa khu thợ thuyền và phu mỏ. Tại đây ông bà tiếp tục làm nghề cứu nhân độ thế. Vào những lúc khó khăn bà phải “bồng bềnh xuôi ngược” mua bán sơn hào ở các ngọn sông. Thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành, Nguyễn Đình Khải đã chứng kiến bao nỗi lầm than của cuộc đời người thợ. Về tỉnh lị, Khải được theo học thầy đồ Nguyễn Văn Khoan, thầy là một người “tính tình thẳng như gióng trúc nhưng rất nhân từ” (Thầy đồ tôi) và tiếp tục theo học trường tiểu học của thầy Quốc Cừu với ông Đốc Điện. Đây là những nhà giáo giàu tâm huyết. Khải là một học trò thông minh, tinh nghịch, ham đọc sách, vượt trội bạn bè về Hán văn, Pháp văn và toán Pháp, đặc biệt về năng khiếu hội họa ngày càng lộ rõ, mười hai tuổi đã có thơ kèm tranh vẽ tặng mọi người.

Chính người mẹ đã truyền cho ông cái kho tàng văn học dân gian phong phú và người cha đã truyền cho ông cái kho sách thánh hiền với các tri thức về văn hoá và lịch sử nước nhà. Khi trở thành nhà văn nổi tiếng trên văn đàn, Lan Khai đã tự bạch về những ngày thơ ấu: “... Không một ngày nào, những khi mẹ con được gần gũi hú hý với nhau, mà mẹ tôi lại đã không kể cho tôi nghe ít nhất là một sự tích về cái thời mà Bụt còn năng hiện xuống trần để can thiệp vào nhân sự, hoặc cái lai lịch não nùng của bà Chúa Ba, hoặc sự tu kiên quyết của bao kiếp luân hồi của Phật tổ? Mẹ tôi kể bằng một giọng chìm chìm, bí mật và đầy thi vị, trong khi một vẻ mơ màng say đắm hiện long lanh trong hai mắt mẹ tôi... Ngồi nghe mẹ kể tôi đã sống hiển hiện cuộc đời các nhân vật lạ lùng của những chuyện cổ tích ấy”[6]. Với người cha, ông cũng hồi ức lại: “Thầy tôi còn hay kể cho tôi nghe những chuyện về Thúy Kiều, về Chiêu Quân, những tích rút ở Tình sử và Liêu Trai...”[7]. Có thể thấy thời thơ ấu của Lan Khai sống trong một cái nôi văn hoá đẹp và một không gian chứa nhiều cảm xúc.

Tỉnh lị Tuyên Quang nằm ở khu đồng bằng hữu ngạn sông Lô, thuộc xã Y La, huyện Yên Sơn ngày nay (tức phía Nam huyện Phúc Yên xưa) có nhiều danh lam thắng cảnh, với các di tích đền chùa đình miếu, thành quách, nơi tiềm tàng nhiều sự kiện lịch sử cùng các truyền thuyết từ thời đại Hùng Vương. Trong Thần Phả ngôi đền Ông ở huyện Phúc Yên xưa có đoạn viết: “Đây là xứ sơn kỳ thủy tú, vạn vật phong phú tốt tươi, sơn hào vô tận, ruộng nhiều lúa chín, đất nở đầy hoa, chim kêu vượn hót; mặt người tươi đẹp, thuốc quí tiềm tàng, không gì là không có, nhờ khí hạo nhiên”[8]. Người dân xưa có nghề nông phu, sơn tràng, chài lưới, mộc, rèn, đan lát, buôn bán sơn hào hải vị và canh cửi. Các vương triều trong lịch sử xem Tuyên Quang là nơi tiềm tàng của cải và là vùng phên dậu thứ ba của đất nước. Văn bia thành Tuyên có đôi câu đối:

An Biên bách thế lưu kim ngọc

Tuyên thành vạn cổ án Thăng Long

Nghĩa là:

An Biên muôn thuở lưu vàng ngọc

Thành Tuyên mãi mãi chắn Thăng Long

Nơi đây đã trải qua các biến cố lịch sử dữ dội như cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thế kỷ XIII, chống quân Minh thế kỷ XV, đuổi quân Thanh thế kỷ XVIII; khởi nghĩa của Nùng Văn Vân đầu thế kỷ XIX; giặc Cờ Đen cuối thế kỷ XIX... Tất cả đã để lại dấu ấn không mờ trong tiềm thức của nhân dân. Từ đó về sau đã soi vào những trang viết của Lan Khai.

 Xưa những nhà Nho[9] tiết tháo không may rơi vào cảnh đường đời gió bụi, lánh đục về trong đã tìm đến nơi sơn kỳ thủy tú nương mình, họ đã để lại những vần thơ câu phú tươi xanh về xứ sở lâm tuyền cho hậu thế. Nơi đây còn lưu giữ được các ký ức xa xưa về danh nhân ẩn sĩ Nguyễn Hàng cùng những bức tranh xứ sở trong “Tịch cư ninh thể phú”, “Đại Đồng phong cảnh phú”, “Tam Ngung động phú” của ông. Trong bài “Đại Đồng phong cảnh phú” có đoạn viết:

 Đặc khí thiêng liêng

 Nhiều nơi thanh lạ...

 Xem phong cảnh chỉn đà khác thường

 Gẫm tạo vật thật đà có ý[10].

Tất cả đã khơi dậy trong tâm hồn người nghệ sĩ để lại những trang viết sau này. Từ xa xưa, nơi đây cũng được xem là mảnh đất linh thiêng và thơ mộng qua bài Sấm Ký bằng chữ Hán khắc trên tấm bia đá từ thế kỷ XVIII tại chùa An Vinh, nơi khơi nguồn cho những cảm hứng thi ca thể hiện sâu lắng trong những vần thơ của một vị thiền sư - thi sĩ:

 Thế đất long xà lựa được nơi

 Cảnh quê ngày rộng trải niềm vui

 Khi nhàn ngồi ngắm non cao vút

 Gió mát trăng trong ánh rực trời2

Đền Hạ Tuyên Quang cũng là một di sản văn hóa lâu đời của đất nước, qua bài Từ Đền Hạ([11])cho hay một bức tranh hài hòa sơn thủy, giữa chốn linh thiêng với lòng người và cái nhìn có chiều sâu lịch sử của cha ông qua một bài thơ:

Phía trước là dòng sông Lô

Phía sau là dãy núi Là tôn nghiêm

Ngàn năm sừng sững ngôi đền

Lòng dân ôm mãi nước non trong mình

 Từ một bản nhỏ thâm u bên bờ sông Gâm đến vùng đất tỉnh lị bên bờ sông Lô, đi suốt chiều dài tuổi thơ của một cậu học trò, Nguyễn Đình Khải đã lớn lên trong môi trường thiên nhiên linh thiêng và thơ mộng. Khi đã thành một học sinh Trường Bưởi và sinh viên Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, cũng như khi đã có một tổ ấm gia đình, là một anh đồ Khải, cái chất đường rừng với cái men nghệ sĩ đã đưa bàn chân anh hành trình khắp đó đây, từ núi rừng Việt Bắc đến các buôn sóc Tây Nguyên xa xôi. Ở con người ấy lại có sở trường dễ hoà nhập với phong tục và ngôn ngữ của mọi vùng miền đất nước, luôn có thói quen ghi chép những biến thái quanh mình; có khi là một bài dân ca, một câu chuyện cổ, một gương mặt đẹp, một bông hoa lạ, một tiếng suối reo... thành những bức tranh hay trang viết sau mỗi cuộc hành trình.

Năm 17 tuổi, Nguyễn Đình Khải theo học Trường Bưởi, đây là bước ngoặt của cuộc đời người học trò xuất thân từ xứ sở áo chàm, hòa mình vào cuộc sống đô thị để trau dồi kiến thức, phát triển tài năng, mở rộng tầm nhìn và có thêm những quan hệ mới. Là một học sinh có ý chí tự do, khóa học đến kỳ kết thúc thì nổ ra cuộc biểu tình và bãi khóa của học sinh, sinh viên ở Hà Nội vì tự do dân chủ (đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh), tham gia tổ chức phong trào đó, Khải bị nhà cầm quyền thực dân bắt giữ và đuổi học qui tội “dính líu vào quốc sự”. Thời gian này Khải có mối tình với một người thiếu nữ đẹp tên là Nguyễn Thị Duyên (1909-1982) nguyên quán tỉnh Sơn Tây, cuộc tình đã “trót dở dang”, nhưng hai người khác nhau về tôn giáo, nên chỉ được cha mẹ cho sống với nhau và không thành hôn lễ. Rời Trường Bưởi, Khải lại tiếp tục thi vào Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương để học lên, nhưng rồi phải bỏ học giữa chừng vì “bên mình lúc nào cũng kè kè mật thám”. Cũng thời gian này Nguyễn Đình Khải có dịp làm quen và gắn bó với thi sĩ Tản Đà và cây bút văn xuôi mới Hoàng Tích Chu[12].

Năm 1927, Khải trở về quê hương, chính thức kết hôn với thiếu nữ Hà Thị Minh Kim - con một gia đình khá giả sống lâu đời ở tỉnh lị Tuyên Quang, là một người nổi tiếng về nhan sắc, được học hành, thông minh và có biệt tài về trí nhớ, giỏi thêu thùa đan lát, sống nhân hậu thủy chung, được nhiều người nể trọng, từng “mến mộ anh chàng học sinh Trường Bưởi, đẹp trai hiền hậu, học giỏi vẽ tài và sinh ra trong một gia đình nhân đức”(12). Hai gia đình đã có ý tác thành từ trước. Sau khi biết rõ cuộc tình đầu tiên của chồng với người phụ nữ vương “sự dở dang”, bà đã tự mình đi đón người phụ nữ mang bầu sáu tháng đó ở Hà Thành về Tuyên sống với mình, rồi lại thay chị nuôi dưỡng Lan Hương[13] khi đứa trẻ mới chào đời, do người mẹ của Lan Hương lâm sản nạn. Hai người phụ nữ đó đã gắn bó với cuộc đời văn nghiệp của nghệ sĩ Lan Khai gần hai mươi năm. Họ đã đùm bọc nhau suốt hơn năm mươi năm kể cả “những lúc lầm than nhất”.

 Bà Hà Thị Minh Kim vừa lo tổ chức đời sống gia đình vừa là người “trợ bút” đắc lực cho Lan Khai trong nhiều trang viết. Thời gian sống ở Hà Thành, đôi khi bà lại cùng chồng tham gia vào những vở diễn khi nhà hát cần người. Bà luôn bám sát sự sống của Lan Khai ngay cả khi ông bị giam cầm tù tội. Vì thế chân dung của người phụ nữ thảo hiền này xuất hiện ở nhiều trang tự truyện của Lan Khai. Đồng thời bà cũng là người lưu giữ được nhiều nhất những ký ức về cuộc đời văn nghiệp của Lan Khai cùng những kỷ niệm về các văn nghệ sĩ Bắc Hà một thời đáng nhớ. Bà đã ghi chép lại thành tập “Ký ức Hà Thành - Truyện lầm than của chúng tôi”.

Tại quê nhà, Khải vừa dạy học, viết văn, say mê vẽ và bồi đắp thêm những kiến thức về y nghiệp, rồi liên tục hành trình trong thế giới sơn lâm.

Hai bà quả phụ còn kể lại: “Những ngày trời đẹp, anh thường một mình mang theo giấy bút và giá vẽ vào sâu trong rừng để vẽ tranh, hoặc thăm thú bà con thôn bản”. Khải đam mê vẽ tranh phong cảnh, thích sưu tầm văn học dân gian, làm thơ về quê hương về tình bạn tình yêu. Được chứng kiến tận mắt cuộc sống lầm than của những người phu mỏ đến những cảnh đời cơ cực của đồng bào trong một xã hội đầy bóng tối, Nguyễn Đình Khải đã quyết định từ bỏ cái y nghiệp của tổ tiên để “làm một nhà tiểu thuyết”. Là người có thú chơi sách, “anh đã lập cho mình một thư viện lớn ngang bằng nhà sách ở phố Hàng Bông thời bấy giờ, gồm các loại sách báo cổ, kim, Đông, Tây với tên tuổi các tác gia văn học, triết học và sử học nổi tiếng trên thế giới. Anh say mê tự học, đọc thông thạo Tân Thư bằng chữ Hán và các sách báo phương Tây bằng tiếng Pháp, biến nguồn tư liệu đó thành kho tri thức cho mình. Anh đam mê khảo cứu phong tục tập quán và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở các vùng miền đất nước. Hàng ngày anh luôn tỏ ra tiếc thì giờ, dồn mọi tâm chí vào tự học”[14]. Vì thế vốn tri thức của Nguyễn Đình Khải rất sâu rộng, được nhiều trí thức đương thời nể trọng.

Cuốn “Nước hồ Gươm” ra đời vào mùa thu năm 1928 với bút danh Nguyễn Lan Khai cũng là lúc bà Hà Thị Minh Kim sinh đứa con đầu lòng đặt tên là Nguyễn Đình Phượng (sau đổi thành Nguyễn Lan Phương). Là người say đắm hoa lan, lại nhớ về niềm ước vọng xa xưa của mẹ và một tình rừng tha thiết, bút danh Lan Khai (hoa lan nở) ra đời gắn với từng thiên tiểu thuyết. Lần lượt tên của bốn người con trai nhà văn được gắn với đặc tính của loài hoa đẹp nhất: Lan Hương, Lan Phương, Lan Hoa, Lan Diệp. Cũng năm này Lan Khai khai bút cuốn Cô Dung, mười năm sau mới có dịp in thành sách, ông ghi vào trang trước: Kính tặng hương hồn mẹ!

Cuối năm 1928, được sự giới thiệu của nhà giáo yêu nuớc Phạm Tuấn Tài, Lan Khai gia nhập Quốc dân Đảng, do lãnh tụ Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Ông là Ủy viên ban chấp hành của Đảng. Sau một thời gian ngắn thực dân Pháp ra tay đàn áp, các lãnh tụ của Đảng lần lượt sa vào tay địch, Lan Khai bị bắt giam, mang số tù 8023, ông bị khép án tử hình, rồi chuyển xuống tội danh “a tòng nghịch phản”, bị tra tấn tổn thương phổi và mờ mắt. Cha mẹ ông đã tiêu hết gia tài để cứu ông thoát chết. Thói quen đam mê đọc sách đến quên ngủ, quên ăn đã làm ông sớm phải mang kính cận. Ông đã viết cuốn bút ký nhan đề 8023, thuật lại những năm tháng hoạt động trong tổ chức Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học và bị cầm tù. Từ đó trở đi, ông chuyên tâm vào sáng tác, nghiên cứu, dịch sách, sưu tầm văn học và dạy học. Từ những năm 30 trở đi trên các tờ báo Loa, Ngọ báo, Đông Phương, Đông Tây, Đông Pháp, Văn học tạp chí, Phổ Thông bán nguyệt san, Ích Hữu, Tiểu thuyết Thứ Bảy, Tao Đàn... bút danh Lan Khai - Lâm Tuyền Khách ngày càng trở nên gần gũi với độc giả Hà Thành và cả nước, nhất là các truyện đường rừng, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý xã hội cùng các bài nghị luận và phê bình văn học, khảo cứu phong tục...

 Khi đã khẳng định được vị trí trên văn đàn, năm 1934 Lan Khai cùng gia đình chuyển về Hà Nội sống theo nghiệp văn chương. Ở quê nhà chỉ còn lại song thân tiếp tục nghề cứu nhân độ thế. Ngày mới về Hà Nội gia đình ông thuê một căn gác nhỏ ở phố Henry d’ Orleans (trục ngang đường Phùng Hưng ngày nay), sau lại về thuê một căn nhà số 26 phố Châu Long. Với tám miệng ăn gia đình chủ yếu dựa vào cây bút của Lan Khai. Ông vừa viết văn, dạy học, dịch sách, diễn thuyết, diễn kịch, vẽ truyền thần và tranh quảng cáo để nuôi sống gia đình. Thời gian này Lan Khai được ông Vũ Đình Long - chủ bút Nhà xuất bản Tân Dân mời làm biên tập cho tòa báo số 93 - Hàng Bông. Tại đây ông có điều kiện dồn hết tài năng, sức lực vào sáng tác và có cơ hội làm quen với nhiều văn sĩ Bắc Hà. Ông là bạn vong niên của Tản Đà, Nguyễn Văn Tố, Ngô Tất Tố; là bạn văn bút của Trần Huy Liệu, Hải Triều, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan, Ngọc Giao, Khái Hưng, Thiều Quang Lộc, Vũ Bằng, Nguyễn Vĩ, Lưu Trọng Lư, Trần Huyền Trân, Hồ Dzếnh, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Bính, Học Phi, Tchya, Tô Hoài v.v... Là một nhà văn có năng lực sáng tạo dồi dào và vốn kiến thức sâu rộng, lại là một “con người hiền hành nho nhã”, Lan Khai được nhiều văn nghệ sĩ yêu kính.

Căn nhà số 26 phố Châu Long, một thời gian khá dài là địa điểm họp mặt thường xuyên của nhiều văn nghệ sĩ danh tiếng, được các nhà văn đặt cho nơi đây cái tên “Vũng Lương Sơn Bạc”. Mặc dù cuộc sống vô cùng đạm bạc, nhưng Lan Khai là con người chân tình cởi mở, hay nhường cơm sẻ áo cho bè bạn. Ông còn là trung tâm hòa giải những mối bất hòa trong nội bộ những người cầm bút. Trong gia đình ông là người con hiếu thảo với mẹ cha, thương yêu vợ con đằm thắm. Hai người vợ của ông là những phụ nữ nhân hậu, hòa thuận biết hy sinh tất cả cho sự nghiệp của chồng hay cưu mang những người vận nạn. Đương thời, thi sĩ Tản Đà gọi họ bằng hai cái tên thân mật: “Cam phu nhân và Mi phu nhân”[15]. Những người con của họ đều thông minh, ham học và hiếu thảo.

Năm 1938 khi tiểu thuyết Lầm than vừa được in ra, Lan Khai bị Sở mật thám Pháp bắt giam khép vào tội “tuyên truyền Cộng sản” và bị tịch thu nhiều bản thảo “có nội dung chống đối” trong đó có tập “Mồ hôi máu” viết về phu lục lộ ở Yên Bái, Lao Cai. Năm 1939 Lan Khai làm Tổng thư ký tạp chí Tao Đàn - tạp chí tiêu biểu của Nhà xuất bản Tân Dân, đồng thời ông là cây bút chủ lực của nhà xuất bản này. Ngoài ra, ông còn là diễn viên nghiệp dư cho các rạp hát Hà Nội với các vai chính trong các vở tuồng và kịch lịch sử. Nhà văn Ngọc Giao đã từng ghi lại tài diễn xuất của ông: “Ngô Thì Nhậm hiện lên sân khấu quả là một nhân vật siêu phàm kiệt liệt, một đại danh sĩ Bắc Hà, một đại mưu sĩ của Bắc Bình Vương”. Lan Khai còn là diễn giả thường xuyên cho Hội Trí tri và cộng tác với Nguyễn Văn Tố trong Hội truyền bá chữ Quốc ngữ. Những người thân của ông cho biết: Lan Khai dáng cao, người mảnh dẻ, tính tình cương trực nhưng lại hay xúc động, thích trồng hoa và gần gũi trẻ thơ, ham du ngoạn, ưa quảng giao hào phóng, hay dí dỏm khôi hài, đặc biệt được nhiều phụ nữ mến mộ. Nhà báo Văn Hải - người cùng thời cho biết: “Ông là người hiền lành nho nhã, có khiếu nói chuyện hay, có trình độ cao về Hán văn và rất sành tiếng Pháp. Cái tên Lan Khai của ông có nghĩa là hoa lan đang nở”[16]. Ông lại là người thường xuyên đau yếu do bệnh hen suyễn “nhiều trang bản thảo ông phải vừa nằm, vừa nghĩ, vừa đọc cho vợ viết”[17]. Ông sống và làm việc hết mình cho nghệ thuật “thường quên ngủ quên ăn”; có cuốn sách ông viết đi viết lại nhiều lần, còn những cuốn sách ông phỏng thuật, hay “viết nhanh” đều được ký vào bản thảo là ĐKG trước khi đưa đến nhà xuất bản (có nghĩa là để kiếm gạo, khi có người hỏi Lan Khai về bút danh này). Trong các thiên tự truyện cho thấy ông là nhà văn có lòng tự trọng cao, biết xấu hổ khi thấy người cầm bút phải “đánh đĩ với cây bút” bằng những trang viết rẻ tiền. Lan Khai là người có khả năng đặc biệt, viết và vẽ bằng cả tay phải và tay trái như nhau. Cảm phục về những truyện đường rừng tươi đẹp, các văn nghệ sĩ Bắc Hà đã gọi ông với cái tên thân mật “nhà văn đường rừng”. Cảm mến trước những bức tranh về cảnh trí sơn lâm và những truyện đường rừng, Tản Đà đã tặng ông bút danh Lâm Tuyền Khách. Trên văn đàn, nhà phê bình Trương Tửu gọi ông là “nghệ sĩ của rừng rú”, là “đàn anh trong thế giới sơn lâm”, là “cây đa cổ thụ giữa cánh đồng bát ngát”. Qua tiểu thuyết Lầm than nhà văn Hải Triều viết: “Hiện tại Lan Khai đã phất lá cờ tiên phong trên mảnh đất này”. Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Lan Khai là nhà văn biết ghi những cái đáng ghi ở trên đời và hiểu tâm lí người lao động”. Nguyễn Tuân gọi Lan Khai là người “to gan lớn mật nhất văn giới Bắc Hà”...

Cuối năm 1939, tạp chí Tao Đàn bị đình bản, do nhiều bài báo “có nội dung chống đối”, Lan Khai lại bị thực dân Pháp bắt giam vì chúng cho cuốn Lầm than là “truyền đơn Cộng sản” và ra lệnh cho các nhà sách thu hồi cuốn sách đó. Tập ký sự nhan đề “Nước độc” của ông viết về những người phu và thợ thuyền ở các bến cảng sông Lô cũng bị tịch thu dịp ấy. Cùng năm, Nhật vào Đông Dương “tình nước cảnh nhà muôn nỗi éo le”, trong tù ông còn phải “viết nhanh” một số cuốn ký tên là ĐKG đưa người vợ chuyển cho nhà xuất bản để cứu giúp gia đình. Ra tù ốm đau bệnh tật, gia cảnh sa vào quẫn bách, người con cả của Lan Khai là Nguyễn Lan Hương phải bỏ học về quê trông nom ông nội già yếu. Nhà văn có ý định hồi hương, nhưng nhiều bạn hữu đã “ngăn chân lại”. Thời gian này ông thu thập các bản thảo trong 10 năm còn lại cho xuất bản hàng loạt để cứu sống gia đình và viết cuốn “Mực mài nước mắt” (1940, in 1941) để chuẩn bị “nói lời từ giã với Hà Thành”. Năm 1943, Lan Khai gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc tại Hà Nội, nhận nhiệm vụ tuyên truyền cho đường lối của mặt trận Việt Minh và phát hành báo chí bí mật.

Đầu năm 1944, Lan Khai mới chính thức hồi hương trở về ngôi nhà lá gồi xóm Gốc Nhội xưa tại phố Xuân Hoà, thị xã Tuyên Quang, nơi từng là điểm họp mặt của nhiều văn nghệ sĩ Bắc Hà mỗi lần ngược dòng Lô đi tham quan quê hương của Lâm Tuyền Khách. Ông vừa dạy học, vẽ truyền thần, viết văn và mở hiệu sách Lan Đình bán đủ loại sách báo và tranh ảnh. Mặc dù cuộc sống hết sức khó khăn, nhưng Lan Khai đã hoàn thành bản dịch “Tuổi thơ” (Hồi ức của Lev Tolxtoi); bộ tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam- Ngươi đi đâu?”; tiểu thuyết “Lũ quỉ ám”; “Những người không được làm người nữa”. Đầu 1945, Lan Khai đã hoàn thành bộ sách dày ba tập nhan đề “Vạn hoa từ điển”[18] và ghi vào trang trước dòng chữ lớn: Kính dâng loài người. Đây là “công trình máu thịt” của ông qua nhiều năm. Trong đó mỗi loài hoa được vẽ thành một bức tranh nhỏ kèm theo lời chú giải, bao gồm các loài hoa từ quen thuộc đến xa lạ ở mọi vùng đất nước, từ hoa huệ, hoa lan, hoa hồng, hoa đào, hoa mơ đến hoa kroỏng, hoa roóc mạy, hoa tri tàu đông, hoa mua, hoa sảng v.v... cùng với tập Thơ ca - Lâm Tuyền Khách và nhiều tác phẩm khác chưa kịp in ra thì một tai họa đã đến với gia đình ông. Do Việt gian tố giác: “Trong Hiệu sách Lan Đình có lưu hành báo cấm” (Cờ giải phóng và Cứu quốc), bất ngờ nửa đêm một ngày đầu mùa hè năm 1945, bọn Phát xít Nhật ập vào gia đình Lan Khai lục soát, đánh đập vợ con ông và hạ ngục Lan Khai ở nhà giam thuộc Đồn binh Nhật. Chúng tìm mọi cách đe dọa, dụ dỗ không được và đã tra tấn ông chết đi sống lại nhiều lần. Trước những ngày Nhật đầu hàng Đồng minh, tưởng ông đã chết, kẻ thù mới ném tấm thân tàn ấy ra ngoài trại, ông sống sót trở về với gia đình.

 Cách mạng tháng Tám bùng nổ, gia đình ông tích cực hưởng ứng. Con cả nhà văn là Nguyễn Lan Hương tham gia vào lực lượng tự vệ do Việt Minh lãnh đạo đánh phá Đồn binh Nhật trong thành cổ thị xã, giải phóng Tuyên Quang. Lan Khai được bầu làm Chủ tịch lâm thời khu phố Xuân Hòa. Thực hiện chủ trương của cấp trên, ông hô hào nhân dân “đoàn kết chống đói và đề phòng quân Tàu Ô núp dưới danh nghĩa Đồng minh kéo vào thị xã”. Đồng thời ông còn đề xuất ý kiến: “Mở ngay các nhà sách cho con em nhân dân học tập”[19].

Một buổi trưa ngày thu năm đó, khi vừa dời Uỷ ban Hành chính lâm thời về nhà, ông nhận được một bức thư ngắn của Thượng cấp địa phương mời đi nhận nhiệm vụ mới. Trong thời gian 3 tháng tại ATK thuộc châu Tự Do (Sơn Dương), Lan Khai dạy học kiêm soạn thảo các công văn giấy tờ và dịch những tài liệu theo yêu cầu của tổ chức. Thời gian đó, qua một người học trò thân thiết ông có gửi hai bức thư về gia đình, kèm thuốc Nam cho con; đồng thời ông cũng viết ba bức thư cho đồng chí Trần Huy Liệu. Khi một bức thư của ông đến được tay Trần Huy Liệu “thì Lan Khai đã vĩnh viễn xa rồi”! Năm mươi tám năm sau (2003) nhà báo Văn Hải xưa (tức Thiếu tướng Hoàng Mai- Bộ Công an) đã cho biết ngày tháng năm ông mất và vuông đất Lan Khai nằm lại. Tám giờ sáng ngày 29-11-1945 là thời khắc đau buồn nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại và gia đình ông: Lan Khai bị một tên côn đồ sát hại tại Khe Ngọn, đồng Ao Lân, bản Lũng Cò, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trong thời gian vắng nhà, cha ông - lương y Nguyễn Đình Chức cũng vĩnh biệt cuộc đời sau trận đại hồng thủy vào một ngày thu ảm đạm (18-8 Ất Dậu)...

Kháng chiến bùng nổ, bà Hà Thị Minh Kim - “người vợ ta9o khang” của Lan Khai cùng ba người con đều tham gia kháng chiến. Bà là Trưởng ban phụ vận kháng chiến chống Pháp; Nguyễn Lan Hương tham gia Vệ quốc đoàn rồi ngã xuống hy sinh trong một trận chiến đấu ác liệt ở đỉnh cao phía Bắc, vào một buổi sớm sương mù ngày đông năm 1948, khi anh vừa 21 tuổi. Nguyễn Lan Phương công tác ở phân ban Hội họa Mĩ thuật của Sở Thông tin tuyên truyền quân khu X. Nguyễn Lan Hoa gia nhập Thiếu sinh quân. Nguyễn Lan Diệp còn nhỏ theo người mẹ tật nguyền (Nguyễn Thị Duyên) đi tản cư. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, thị xã Tuyên Quang thành vườn không nhà trống, Thư viện Lan Khai cùng nhiều tranh mĩ thuật của ông với nhiều di cảo bị thất lạc, gia đình ông chỉ kịp mang theo một phần kỷ vật của ông. Hòa bình lập lại, vợ con ông định cư và lập nghiệp ở tỉnh lị Hà Giang cho đến nay, một số cháu chắt của ông vẫn theo ngành nghệ thuật.

(còn tiếp)

Nguồn: Lan Khai Tuyển tập. NXB Văn học, 5-2010.

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

Danh ngôn

Có những điều thú vị mà không nói ra thì ai cũng biết
Nếu trừng phạt một người con gái, tôi sẽ nhốt cô ta vào một cái phòng không có gương. (M.Asa)

Bạn chớ lên án người phụ nữ nào bay từ người đàn ông này đến người đàn ông khác. Cô ta đang tìm người đàn ông chung thủy. (Gớt)

Không yêu một người con gái đẹp như vậy là một lỗi lầm, còn yêu cô ta – một sự trừng phạt. (V.Đêviat)

Người đang có ý định lấy vợ là người đang đi trên con đường dẫn tới sự hối hận. (Mêlangiơ)

Cách tốt nhất để hiểu một người con gái là bạn phải yêu cô ta, nhưng đến khi lấy rồi thì chả cần thiết phải hiểu cô ta làm gì. (H.Haine)

- Em không thể nói dối được!
- Em đã đánh giá quá thấp về bản thân đấy!
(M.Ocle)

Người ta gọi chó sói là thú dữ vì nó cũng ăn thịt bò. (A.Culich)

Khi nào tình yêu còn mù quáng, khi ấy vẫn chưa có lý do nào để chia tay. (A.Anđriepxki)

Trí thông minh của chúng ta bắt nguồn từ kinh nghiệm, còn kinh nghiệm- từ những sự ngu dốt của chúng ta. (X.Gitri)

Không nên bày tỏ những lo âu và thất bại của bạn cho những người bạn nghe. Tốt hơn hết nên kể với những kẻ thù của bạn – ít ra thì bạn cũng cung cấp cho họ những phút giây thoải mái, ngoài ra, bạn còn chắc rằng: họ sẽ dỏng tai lên mà nghe bằng hết những lời nói của bạn. (B.Sou)

Càng ngày tôi càng tin tưởng vào tác dụng duy nhất của sự thật; nó giúp chúng ta hiểu rõ: dối trá quả là có lợi. (P.Đragiep)

Hỡi loài người, hãy bảo vệ cây cối – tổ tiên của chúng ta đã từng sống ở trên đó. (M.Genin)

Có một số người nói rằng: đồng tiền không làm nên hạnh phúc. Chắc hẳn họ muốn nói đến những đồng tiền của người khác. (X.Gitri)

Khi một người phụ nữ từ chối tình yêu của bạn và thay vào đó, cô ta đề nghị giữ vững tình bạn, bạn chớ nghĩ đó là lời từ biệt - điều đó có nghĩa là cô ta muốn bạn hành động theo thứ tự đã định sẵn. (Moliere)

Trẻ con bắt đầu hư khi chúng bắt đầu hiểu người lớn. (G.Mankin)

Khi một nhà ngoại giao nói "có", điều này có nghĩa là "có thể". Khi anh ta nói "có thể", điều này có nghĩa là "không". Còn khi anh ta nói "không" thì không còn là nhà ngoại giao nữa. (Vontaire)

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Những bài hát về thái bình hay nhất

http://www.youtube.com/v/oTqGf3bTrxk?version=3&autohide=1&showinfo=1&feature=share&autohide=1&attribution_tag=RckOy1u5TxEIssDYxFtpEw&autoplay=1

Nghe câu quan họ trên cao nguyên - Anh Thơ

http://www.youtube.com/v/WtFx99GgWIg?version=3&autohide=1&showinfo=1&autohide=1&autoplay=1&feature=share&attribution_tag=LqZ15-QP_BY2cYRaMgDMjA

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

Vô địch ATP ở LONDON

Kết thúc giải đấu là trận trung kết trong mơ giữa Novac Djokovic và Rafael Nadal tranh giải nhất nhì ATP 1000 cuối cùng trong năm.

Chúc mừng nhà vô dịch N.Djokovic.

Chúc mừng Á quân R.Nadal.

Cùng với Tàu tốc hành Ferderer ,các anh luôn là những gương mặt được nhiều người hâm mộ nhất hành tinh trong bộ môn thể thao rất quyến rũ này.

Một số hình ảnh tại lễ trao giải:










Thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII...

http://www.youtube.com/v/46sYMo6Nvw4?autohide=1&version=3&autohide=1&feature=share&attribution_tag=uhS0jqIXtSJTAxxmEvGuSA&showinfo=1&autoplay=1

Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII (Phần 4)

http://www.youtube.com/v/HZJehYqYF8s?version=3&autohide=1&autoplay=1&showinfo=1&attribution_tag=WjzhwGANvfgwsxMfrvGySg&autohide=1&feature=share

Một số làn điệu Chèo

http://www.youtube.com/v/O9NKaJP-Lvw?autohide=1&version=3&attribution_tag=LRaBbDVI4y242dglq8-iMA&showinfo=1&autohide=1&feature=share&autoplay=1

Hat Cheo ~ hat ve to quoc _ thay hai tb

http://www.youtube.com/v/3poBs2XN1Qk?version=3&autohide=1&feature=share&autoplay=1&autohide=1&attribution_tag=SGlvWJ3Ruq906UMuCVTfKA&showinfo=1

quốc hội Clip phát biểu của ĐB Nguyễn Bá Thuyền

http://www.youtube.com/v/9-lqN5cVRA8?version=3&autohide=1&showinfo=1&attribution_tag=uzpyAi82AnF8vlGBWNoNKA&autohide=1&autoplay=1&feature=share

Bài phát biểu đã gây chấn động của ĐBQH Lê Như Tiến (7/6/2012)

http://www.youtube.com/v/AueWHko-yIo?autohide=1&version=3&autoplay=1&feature=share&attribution_tag=YPVMV-SEsKoRFSOEEGpMcg&showinfo=1&autohide=1

Lan diep thay hai tb.DAT

http://www.youtube.com/v/hhfUIxAtKjg?version=3&autohide=1&showinfo=1&autohide=1&autoplay=1&feature=share&attribution_tag=wPSsLHctTmbQ4z0Ggz9uvw

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Cheo Thai Binh- thay hai tb.mpg

http://www.youtube.com/v/ltxMcYDnoQE?autohide=1&version=3&attribution_tag=xTYmMWDVkETIaEi_VHzOoA&feature=share&autoplay=1&autohide=1&showinfo=1

Hãy yêu vì cuộc đời cần bạn yêu thương

Ai cũng nên có một tình yêu

Vốn dĩ, tình yêu không phải là thứ ý nghĩa nhất, nhưng tình yêu lại là thứ có thể an ủi chúng ta hữu hiệu nhất.

Nếu bạn nói tình yêu là chỉ có tổn thương, tình yêu là lãng phí thời gian, tình yêu là một thứ khó nắm bắt nhưng lại dễ tuột mất, và tình yêu từa tựa như đồ vật được biến ra từ chiếc đũa phép, chớp mắt một cái là có thể thay đổi. Bạn không muốn yêu, bạn sợ hãi và né tránh tình yêu, bạn không muốn chuốc lấy những vết thương khoác lên người.

Nhưng kỳ thực, ở đời này, ai cũng nên có một tình yêu. Dù đau khổ nhưng sẽ khắc cốt ghi tâm, dù lỡ
dở nhưng trở thành câu chuyện cuộc đời thật ý nghĩa, dù có thể tan vỡ nhưng chí ít vẫn sẽ giữ lại quá khứ yêu thương, dù khi trái tim nguội lạnh thì vẫn còn đó cảm giác hạnh phúc.

Không có tình yêu, thật sự khổ lắm! Không phải là sự triền miên đi về lẻ bóng, mà là sự cô đơn bắt đầu men theo đó mà bám rễ trong lòng. Những phút tĩnh lặng nghe thấy tiếng trái tim mệt mỏi, đâu đây là tiếng tự an ủi nghĩ thôi cũng thấy xót xa. Người ta cô đơn vì người ta không tìm thấy chỗ bấu víu tâm trạng, cũng giống như một sáng mở mắt dậy chẳng tìm thấy động lực sống tiếp.

Mọi thứ trách nhiệm đổ lên đầu bất giác khiến tinh thần mỏi mệt, chỉ mong nhận được một lời an ủi, động viên.Đôi khi, một hình bóng xa lạ bước vào cuộc sống sẽ khiến chúng ta cảm thấy cảm xúc được nương tựa, chỉ cần được yêu thôi đã là hạnh phúc tròn đầy.

Những người trưởng thành, thường đến một lúc nào đó bỗng cảm thấy khao khát yêu thương.
Cũng giống như người về già vẫn hay hoài niệm chuyện cũ, nhắc lại cuộc đời, thì chúng ta cần những rung động nhẹ nhàng để cuộc sống thêm ý nghĩa.

Tất nhiên, không yêu cũng chẳng sao, nhưng không yêu, thì sẽ rất cô đơn.

Bạn biết không, có những người trưởng thành vẫn rất nhiều lần khóc trong cô đơn. Tình yêu cũng như một loại gia vị, không có nó, hoàn toàn có thể thay thế bằng những loại gia vị khác. Chúng ta vẫn sống cùng với mục tiêu và lý tưởng, vẫn sống bởi vì những trách nhiệm phải
gánh, vẫn chạy thục mạng trong guồng quay chật hẹp chỉ có 24 tiếng, và đôi khi vẫn giằng co bởi
vô vàn nhưng thứ khác xuất hiện trong cuộc đời.

Vốn dĩ, tình yêu không phải là thứ ý nghĩa nhất, nhưng tình yêu là một thứ có thể an ủi chúng ta hữu hiệu nhất, sau tất cả những gì còn lại, những gì mãi mãi rời khỏi, và những gì vĩnh viễn không thể có được.

Đó là lý do, ai cũng nên có một tình yêu. Dẫu cho câu chuyện tình sẽ chẳng giống như cổ tích, sẽ ra
đi và để lại những dấu tích khó xóa sạch. Nhưng, nên có một tình yêu, để cảm nhận cuộc sống này bằng con mắt của người biết yêu và được yêu. Khi ấy chúng ta mới có thể phát hiện, hóa ra có những thứ khác biệt quá nhiều so với thuở chúng ta còn đơn độc.

Một chút quan tâm, một chút ngọt ngào, một chút hy sinh, một chút bao dung, một chút chiều chuộng, một chút dỗi hờn, một chút mâu thuẫn,một chút cãi vã. Nghe tưởng như vô giá trị, nhưng chính là thứ hạnh phúc giản đơn nhất trên đời.

Đừng tìm cách khước từ yêu thương, nếu như có thể. Bởi ai cũng cần có một tình yêu.

Để hạnh phúc, để trưởng thành, để tìm thấy con người thật của chính mình thông qua một hình bóng khác, để chia sẻ sự quan tâm đầy ý nghĩa, để dành lại một chút hoài niệm!

Có muôn vàn ngã rẽ, nhưng ngã rẽ nào cũng sẽ mang dáng dấp yêu thương.

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Phim Anh Hùng Nhạc Phi - Tập 68 Full - Phim VTV1 Trung Quốc Online

http://www.youtube.com/v/o51gw7ono5Q?version=3&autohide=1&autohide=1&feature=share&showinfo=1&autoplay=1&attribution_tag=S6YpOm1e44gnBNfenCx10g

THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT 9.11 / BỨC THƯ NƯỚC MẮT

Ngày nào cũng cần là Ngày pháp luật
Bắt đầu từ năm nay, ngày 9/11 được chọn là Ngày pháp luật VN [1]. Khi ngày kỷ niệm đang đến gần cũng là lúc trên các phương tiện thông tin đại chúng tràn ngập hình ảnh người tù oan 10 năm vừa được trở về nhà. Sự việc này càng khiến chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa của Ngày pháp luật.
Một trong nhiều khẩu hiệu của Ngày pháp luậtnăm nay là “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” [2]. Thiết nghĩ, đây đã là điều đương nhiên, tại sao lại cần khẩu hiệu? Phải chăng, nêu khẩu hiệu như vậy có nghĩa rằng “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” vẫn còn là mục tiêu xa, phải phấn đấu?
Trong một nhà nước pháp quyền, bất kỳ ngày nào cũng cần phải trở thành Ngày pháp luật. Vì pháp luật hiện diện trong cuộc sống của mỗi người hàng ngày, hàng giờ, trong rất nhiều mối quan hệ.

Thượng tôn pháp luật
Mục đích của Ngày pháp luật năm nay là nhằm “[...] giáo dục ý thức Thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội” [3]. Vậy thượng tôn pháp luật là thượng tôn điều gì? Vì sao cần phải tuyên truyền, giáo dục?
Thượng tôn pháp luật là thượng tôn lẽ phải, lẽ công bằng, cái nhân văn cao cả, hợp lẽ sống ở đời ngay trong chính pháp luật. Bình đẳng hay không, dân chủ hay không, nhân đạo hay không cũng là ở trong chính nội dung của pháp luật.
Thượng tôn pháp luật không phải là điều gì gò bó, áp đặt. Nếu pháp luật hợp lẽ phải, hợp quy luật, đem lại lợi ích thiết thực cho con người, thì không cần hô khẩu hiệu, tốn quá nhiều tiền tuyên truyền, cổ động, hay giáo dục, người dân cũng sẽ tự nhận thấy tính thiết thực, tự tìm đến, tự bảo vệ nó như “chốn nương thân” của mình.
Thượng tôn pháp luật hoàn toàn trái ngược với việc cổ súy cho lối tuyên truyền, áp đặt một chiều: vĩnh viễn phải tuân thủ pháp luật vô điều kiện, không cần biết, không quan tâm quy trình thủ tục làm ra luật, nội dung pháp luật đó ra sao.Bởi thế, điều quan trọng là làm sao để người dân thấy được chỗ đứng của mình trong pháp luật, thấy được lợi ích của pháp luật mà tự nguyện, tự giác thực thi, hơn là sự “giáo dục mang tính ép buộc”.
Để đảm bảo việc thượng tôn pháp luật, cần quan tâm đến hoạt động xét xử, vì Tòa án chính là nơi cuối cùng người dân có thể tìm đến để cầu viện công lý. Do vậy, một ngạch tư pháp độc lập, quyền lực được phân công rành mạch, phán quyết dựa trên những căn cứ pháp lý, đảm bảo tinh thần duy lý, không thiên vị là những yêu cầu thiết yếu để đảm bảo pháp luật được thực thi.


Giây phút ông Nguyễn Thanh Chấn được thả sau 10 năm tù oan


Thượng tôn pháp luật là không có ai ở trên pháp luật và cũng không có ai không được pháp luật bảo vệ. Những biểu hiện đi ngược với tinh thần này là: Nội dung của pháp luật không từ con người và vì con người; những người là công bộc của dân nhưng hành xử tùy tiện, lấy quyền lực lấn át tính pháp lý, lý lẽ và chuyên môn; bắt giữ, giam cầm và tra tấn người trái pháp luật, cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án, xâm phạm một cách thô bạo các quyền con người, v.v…

Ngày Hiến pháp thay cho Ngày pháp luật?
Hiến pháp là đạo luật gốc của một quốc gia, là nền tảng để từ đó xây dựng pháp luật. “Cái nền” có toàn diện, bền vững, khách quan, hợp quy luật, lòng dân thì pháp luật dựng trên đó mới thực sự do dân, vì dân, bảo vệ công lý, đảm bảo sự công bằng.
Vì vậy, bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng cần đề cao tính tối thượng của Hiến pháp, mà chủ thể phải tuân thủ trước tiên chính là nhà nước. Công bộc của dân phải đi đầu trong việc thực thi Hiến pháp để bảo vệ những quyền con người, quyền công dân.
Nhiều nước trên thế giới có Ngày Hiến pháp, để nhắc nhở công quyền tôn trọng Hiến pháp, nhắc nhở công bộc của dân thực thi trách nhiệm của mình theo đúng Hiến pháp [4].
Do đó, thay vì Ngày pháp luật, nên chăng chúng ta chọn ngày 9/11 làm Ngày hiến pháp. Điều này cũng rất phù hợp, bởi đây chính là ngày ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam – Hiến pháp năm 1946. Để ngày đó trở thành một cái mốc nhắc nhở chúng ta cùng dựng xây một Chủ nghĩa Hiến pháp ở Việt Nam và nhắc nhở những công bộc của dân phải nghiêm chỉnh thực thi Hiến pháp [5].
TS. Nguyễn Minh Tuấn (Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội)
[1] Theo quy định tại Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2013, ngày 09/11 hàng năm là Ngày Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam. Chủ đề của Ngày Pháp luật năm nay được xác định là “Toàn dân xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
[2] Xem Công văn số 6902/BTP-PBGDPL ngày 25/9/2013 của Bộ Tư pháp về việc tổ chức thực hiện “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm 2013.
[3] Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2013.
[4] Không phải riêng Việt Nam, tại nhiều nước trên thế giới cũng có “Ngày Hiến pháp” hoặc “Ngày Pháp luật”. Chẳng hạn, ở Đức thì từ năm 1860 họ đã tổ chức diễn đàn của các nhà luật học thường niên (Juristentag) và vẫn duy trì đến ngày nay. Mỹ từ năm 1961 cũng vậy, họ lấy ngày 1/5 hàng năm là ngày pháp luật (Law Day). Nhiều nước có Ngày hiến pháp, chẳng hạn từ năm 1947, Nhật Bản chọn ngày mồng 3/5 là Ngày hiến pháp hay từ năm 1949, Hàn Quốc cũng chọn ngày 17/7 là Ngày hiến pháp.
[5] Xét dưới góc độ lịch sử, ngày 9/11 là ngày ban hành Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của một nước Việt nam độc lập. Cho nên việc lấy ngày này là Ngày hiến pháp là rất hợp lý.

 BỨC THƯ NGƯỜI TÙ NTC GỬI VỢ, CON

“Chiến của anh cùng các con muôn vàn nhớ thương!

Đêm nay, khi tất cả các anh em trong buồng đã và đang chìm vào giấc ngủ. Anh không sao ngủ được, trong lòng nghĩ về mẹ của anh, về em, về các con mà hai dòng nước mắt anh tuôn rơi. Vậy nên, anh cầm bút ghi nhanh vài dòng về thăm em và các con.

Mở đầu tâm sự, anh chúc em luôn mạnh khỏe để chèo lái con thuyền cho tốt mà còn kêu oan cho anh nữa.

Vợ chồng anh Chấn nghẹn ngào ngày đoàn tụ.

 

Bây giờ, em sơ qua tình hình gia đình cho anh được biết với nhé, có gì thay đổi nhiều không? Các con vẫn làm ăn tốt cả chứ? Nhất là con dâu của bố thế nào? Hãy tâm sự cho anh biết với nhé? Còn Thế Anh (con út của anh Nguyễn Thanh Chấn – PV) con có học giỏi không đấy? Hãy cố gắng ngoan ngoãn, chăm học và nhất là phải học thật giỏi vào đấy nghe chưa? Đừng bao giờ để bố phải thất vọng. Bố nhớ con nhiều!

Em ơi, bây giờ anh rất đau khổ và buồn chán không biết bao giờ mới hết được cảnh khổ này hả em? Dù một ngày, hay một giờ anh cũng rất nhớ em. Không biết bao giờ vợ chồng mới được sum họp. Để có được những ngày tháng sum vầy cùng gia đình ăn cơm bên đàn con ngoan của chúng mình hả em? Thôi thì thôi, cái gì nó đến thì đã đến rồi, anh chỉ mong em ở nhà cố gắng thật nhiều và nghĩ ít thôi, vì em còn phải kêu oan cho anh nữa chứ. Còn anh ở đây cũng vậy, ngày đêm anh làm đơn kêu oan khi nào được thì thôi.

 

Chiến của anh!

Hai chúng mình đã lấy nhau được hai chục năm nay rồi và đã có những đứa con ngoan và nay lại có thêm cả con dâu và một đứa cháu nội nữa. Anh chưa bao giờ để em phải buồn và lo cho anh như lúc này đây, đúng vậy không em? Anh thật có lỗi với em và các con. Anh thật là một người chồng không tốt đúng không? Anh nói thế đúng hay sai thì em đừng để ý nhé. Bây giờ đầu anh nhiều lúc như muốn nổ tung ra vì không sao chịu nổi những việc oan ức trong lòng mình. Nhưng thôi em ạ, trong những năm tháng ở đây, anh sẽ cố gắng tĩnh tâm lại dần dần, rồi sẽ có những suy nghĩ khác em hiểu không?

Trong lòng anh bây giờ chỉ mong sao em luôn mạnh khỏe, để đối đầu với những sóng gió cuộc đời, khi không có anh ở nhà và bên cạnh em. Vì vậy, em phải thật cứng rắn và can đảm lên. Anh biết vợ anh là người mạnh mẽ và đầy nghị lực. Còn anh bây giờ chỉ biết chờ đợi mà thôi và chờ đợi một sự phán xét công minh của pháp luật.

Anh sống trong môi trường này thì đầy khắc nghiệt và nhiều cái bức xúc là vì sống giữa bao người bản xứ mang trên mình nhiều tội trạng khác nhau. Họ là những con người thật vì họ có tội. Còn anh là con người phải làm theo cơ quan nhà nước mà nói dối pháp luật nên phải nhận lấy cái chết mà họ lại cứ hành hạ anh, như anh ra tòa thì em biết. Anh cứ ngậm ngùi phải ôm lấy nỗi oan tày đình này. Thế thì tất cả là tại anh ngu, anh dại. Chả lẽ số phận kiếp người của anh là vậy, tất cả mong em hiểu.

 

Anh Nguyễn Thanh Chấn được minh oan sau 10 năm ngồi tù.

 

Còn giờ ở trong cái trại này có hàng nghìn người, mỗi người một tỉnh mà không ai giống ai nên nó phức tạp lắm em ạ. Nhưng thôi, anh nói sơ qua để em biết vậy. Còn anh lúc này vẫn phải âm thầm chịu đựng. Tính anh thì em biết đấy, họ phát quần áo, chăn màn anh không lấy, họ bắt viết Bản kiểm điểm thì anh viết “Tôi không có tội với lại tôi không giết người, tư tưởng không yên tâm…” còn mọi cái cũng không có gì vi phạm.

Mình trình bày, họ bảo ở đây chúng tôi không có quyền giải quyết, anh gửi đơn, tất cả giấy tờ chúng tôi gửi đi rồi. Còn anh bảo không nghĩ, không nghĩ sao được… Mà bây giờ nghĩ cái gì, chỉ trách sao có đội ngũ điều tra mất hết lương tâm, làm việc tắc trách. Họ chỉ cần thăng chức vì họ có quyền chức, sao mà công quyền, chức quyền bức cung, ngụy tạo chứng cứ, họ bắt anh phải làm theo, họ đã “hình sự hóa”, họ “đạo diễn” để phá án để rồi kết tội oan cho anh.

Anh chỉ nghĩ một điều, mình không giết người sao mà lại cứ để người ta hành hạ đến bao giờ. Chả nhẽ lại nhận để lấy tiền kêu oan à? Nhưng thôi, anh nói vậy thôi để em biết. Bản thân anh phải gắng chịu đựng sai lầm của cơ quan nhà nước, còn sống ngày nào thì vẫn cứ kêu, nếu ông trời bắt chết thì phải chịu, như hôm ra Tòa, anh xin chết mà cũng chẳng được. Có gì đúng sai em bỏ qua cho anh.

Còn anh chỉ lo cho em và các con ở nhà, hãy giữ gìn sức khỏe cho tốt, làm ăn buôn bán gặp nhiều may mắn. Trong cuộc sống vững chắc tay chèo để lái con thuyền tới đích.

Thôi khuya rồi, anh dừng bút, hẹn thư sau anh sẽ viết nhiều hơn. Ngày mai anh phải đi làm, em thông cảm. Bố thương nhớ các con nhiều.

TB: Em và các con động viên, trông nom bà thay anh nhé.

Thương nhớ vợ của anh

Bố của các con

Nguyễn Thanh Chấn

()

VỤ ÁN TƯỚNG ƯỚC TỪNG BỊ OAN

Nghĩ về vụ án oan 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn, tôi không thể không nhớ đến một vụ án oan khác đã xảy ra cách đây gần 30 năm: Đó là vụ án oan của Trung tướng, nhà văn Nguyễn Hữu Ước.

Những ngày này, dư luận hết sức quan tâm về vụ án oan đến 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn. Đành rằng, đây là một vụ án xảy ra cách đây 10 năm và cho đến bây giờ thì những vụ án oan sai kiểu như thế này có lẽ không còn nữa. Nhưng, hầu như ai cũng bị ám ảnh rằng, tại sao một số người bảo vệ pháp luật, những người cầm cán cân công lý lại có thể thờ ơ, vô cảm với sinh mệnh của người dân đến như vậy.
Rồi đây, các cơ quan chức năng sẽ phải điều tra, làm rõ những ai gây ra nỗi oan tày đình cho ông Chấn và chắc chắn, họ sẽ phải bị xử lý. Đây cũng là bài học cho những người làm công tác điều tra, xét xử…
Nghĩ về vụ án này, tôi không thể không nhớ đến một vụ án oan khác đã xảy ra cách đây gần 30 năm: Đó là vụ án oan của Trung tướng, nhà văn Nguyễn Hữu Ước, hiện đang là Phó tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an Nhân dân. Ngày ông bị bắt là vào khoảng tháng 9 năm 1985. Khi ấy, ông là Đại úy, Phó trưởng phòng Thời sự Báo Công an Nhân dân.
Trong trí nhớ của tôi, lệnh bắt ông mang số 067 và chỉ có mấy dòng mơ hồ “vi phạm pháp luật”. Không có tội danh nào cụ thể.
Vậy mà người ta bắt ông rồi chuyển thẳng vào trong thành phố Hồ Chí Minh, lúc thì giam ở trại B34, lúc thì ở Chí Hòa.
Ba năm giời đằng đẵng, ông trải qua 4 phiên tòa và rồi cuối cùng được tuyên trắng án. Rồi ông lại trở về báo Công an nhân dân làm việc nhưng cũng chẳng được phục hồi, chẳng được bồi thường gì cả và ông phải làm lại tất cả mọi việc từ đầu.
Chúng tôi đã nói rằng, vụ án oan của ông là điển hình cho việc xâm hại các hoạt động tư pháp, mà điều đáng nói ở đây, ông là một Đại úy công an, là một nhà báo, là đảng viên, là người từng chưa đủ 18 tuổi đã lên đường nhập ngũ sang Lào chiến đấu. Với một người như vậy mà người ta còn bắt lấy được rồi tống vào Chí Hòa, bị giam chung với những kẻ đầu trộm đuôi cướp, đám lưu manh chuyên nghiệp thì quả là khủng khiếp.
Nhưng việc ông phấn đấu rồi được đề bạt đến cấp hàm Trung tướng, được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thì cũng là một điển hình về ý chí của một con người và điển hình về sự đổi mới trong công tác cán bộ.
Lịch sử chắc sẽ không lặp lại một vụ như thế nữa.

Nhớ về vụ án oan của Trung tướng Hữu Ước


Trở lại vụ án của ông. Tôi nhớ. Năm 1991, tôi đi viết về một vụ án lừa đảo. Khi cùng với các cán bộ điều tra của Công an Hà Nội hỏi cung đối tượng bị bắt thì gã lại khai ra một chuyện, ấy là hắn từng “được” giam chung với ông Nguyễn Hữu Ước. Gã còn kể, gã được “vinh dự” giao nhiệm vụ “giám sát”, không cho ông tự tử.
Sau này, khi ra tù, trở về Báo Công an Nhân dân, ông kể cho chúng tôi nghe các kiểu hành hạ ông mà một số cán bộ điều tra đã nghĩ ra. Nghe ông nói mà chúng tôi cứ dựng hết tóc gáy và thầm bảo rằng, nếu mình vào cảnh như thế này, có khi bị bắt phải “vu cho bố mình là phản động” thì cũng buộc phải khai cho xong để thoát khỏi cực hình.
Cũng đã có một số vụ án khác mà cán bộ điều tra đã nghĩ ra rất nhiều trò để tra tấn phạm nhân. Nhiều người chịu không nổi đã phải tìm con đường giải thoát - ấy là tự tử.
Hiện nay, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cũng đang điều tra lại về một vụ án bắt giam sai của Công an Tiền Giang hơn chục năm trước. Báo Năng lượng Mới cũng đã có phóng sự về vụ án này và cũng đã được biết những người chịu không nổi cực hình mà phải tự tử. Nhưng Giời vẫn còn thương họ nên làm cho sợi dây họ dùng treo cổ bị đứt…
Sau này, khi đi viết phóng sự về khám Chí Hòa, tôi được một cán bộ quản giáo của trại giam - người đã từng làm quản giáo thời ông Hữu Ước bị giam ở đó dẫn đi tham quan. Ông chỉ cho tôi phòng giam nào ông Ước từng ở, chỗ nào ông Ước từng nằm. Rồi ông lại kể cho tôi nghe vanh vách chuyện ông Ước đã từng phải đánh nhau với bọn đầu gấu vì chúng cướp cơm, cướp chỗ ngủ của ông, hay cả những lần đám phạm nhân há hốc mồm nghe ông đọc “Tam quốc diễn nghĩa”.
Khủng khiếp nhất là trong thời gian ông Ước ở Chí Hòa, cứ vài tháng, các quản giáo lại nhận được lệnh từ một cấp trên nào đó chuyển ông sang phòng giam khác. Đối với phạm nhân, đang ở phòng giam này mà phải chuyển sang phòng giam khác, đó là một sự tra tấn vô cùng tinh vi, nhất là khi “chỗ ở” mới cũng là nơi giam giữ những kẻ lưu manh chuyên nghiệp, đám đầu trộm đuôi cướp và phòng nào cũng rất sẵn đám “đầu gấu, đại bàng”. Bởi người mới vào thì phải nằm chỗ bẩn thỉu nhất, phải hầu hạ đám “đầu gấu, đại bàng” và phải bị ăn những trận đòn “ra mắt”.
Những năm tháng bị giam cầm đã gây cho ông một căn bệnh mà chúng tôi cứ gọi là “hội chứng nhà giam”.
Hàng chục năm đã trôi qua nhưng ông vẫn nằm mê thấy cảnh mình phải ăn cơm trộn cát; vẫn nằm mê thấy cảnh đánh nhau với bọn đầu gấu… Và ông cũng vẫn nằm mê thấy cảnh những cán bộ quản giáo tìm cách dúi cho ông thêm nắm cơm, miếng bánh, an ủi, động viên ông trong những tháng ngày tù tội đó.
Được trả tự do, sự đền bù duy nhất mà người ta dành cho ông là đưa ông đi khám bệnh và an dưỡng ít ngày.
Nhiều cán bộ công an đã từng gây nên nỗi oan cho ông thì vẫn lấp liếm rằng: “Nó không có tội, nhưng cũng có lỗi”. Nhưng lỗi gì thì chẳng ai chỉ ra được.
Ấy vậy mà, ông đã nghiến răng làm lại sự nghiệp của mình. Không nửa lời oán trách. Không có những phát ngôn bất đắc chí. Không tìm cách kiện tụng những người đã gây nên nỗi đau khổ tột cùng cho mình và gia đình.
Tôi đã chứng kiến khi làm Tổng biên tập Báo An ninh Thế giới, ông vẫn đến thăm hỏi, biếu quà vào dịp lễ, tết những người đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên vụ án oan của ông. Bởi ông hiểu rõ, những người ấy thực ra cũng chẳng thù oán gì ông nhưng thời ấy tư duy nó thế, cách làm tùy tiện, vô luật pháp là thế… Sợi dây oán thù nên cởi không nên buộc!
Kinh Dịch có câu rằng: “Vật cùng tắc biến”, nghĩa là, cái gì phát triển đến cùng rồi thì sẽ có sự thay đổi.
Vụ Thẩm mỹ viện Cát Tường đã khiến cho những người quản lý của ngành y tế phải tỉnh ra và có những biện pháp quản lý chặt chẽ hơn các cơ sở khám chữa bệnh, làm đẹp tư nhân. Và đến lúc ấy người ta mới tá hỏa ra, lâu nay, vẫn tồn tại những cơ sở làm đẹp tư nhân hoạt động không có giấy phép.
Vụ Nguyễn Thanh Chấn cũng khiến những cơ quan bảo vệ pháp luật phải tỉnh ra và chắc chắn cũng sẽ có những biện pháp rà soát lại các vụ án có dấu hiệu oan sai hoặc có những biểu hiện xâm hại hoạt động tư pháp.
Cũng phải công nhận rằng, trong khoảng 5 năm trở lại đây, việc các cán bộ điều tra dùng nhục hình hoặc nhục hình biến tướng, hoặc bức cung, mớm cung, dụ cung phạm nhân đã được giảm thiểu rất nhiều. Nhưng, ở đâu đó, cũng vẫn còn. Mong rằng, những người làm công tác xét xử hãy nghĩ đến câu “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” và “Việc gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.
Nhà văn Nguyễn Như Phong/Petrotimes.vn

GỐC RỄ

THÁC BẢN DỐC- CAO BẰNG



Nếu hình dung cuộc đời là một cái cây thì tư duy chính là gốc rễ.

Muốn giàu có, hãy gieo mầm, nuôi dưỡng tư duy giàu có, từ hôm nay, từ chính giây phút này.

Bạn có thể chọn cho mình tương lai và cuộc đời giàu có, hạnh phúc nếu bạn sẵn sàng thay đổi, sẵn sàng từ bỏ cách nghĩ và cách sống cũ để cài đặt cho mình tư duy mới - tư duy giàu có.

 

 

 
Có 3 cách kiếm tiền nhanh nhất
1 - LỢI DỤNG KẼ HỠ CỦA PHÁP LUẬT <---- CHÂN CHÍNH 
2 - LỢI DỤNG Ý THỨC - TRÌNH ĐỘ DÂN VẬN <---- DẠI CHỊU 
3 - LÀM ĂN THEO KIỂU TRẢ GIÁ         <---- CÓ GAN ĂN MUỐNG CÓ GAN LỘI HỒ 
TRIẾT LÝ SỐNG CHĨ LÀ DIỄN THUYẾT TRÊN CƠ SỞ HÌNH THÀNH CĂN BẢN LƯƠNG TÂM MỖI MỘT NGƯỜI ĐEM RA CUỘC SỐNG ÁP DỤNG
 
 
 
LÀM SAO ĐỂ KIẾM TIỀN NHANH NHẤT 

Làm sao kiếm tiền nhanh nhất đó là một câu hỏi muôn thuở,làm giàu có nhiều cách nhưng cách bền vững nhất chính là làm ăn một cách chân chính.Làm giàu bằng chính công sức của mình lúc nào cũng là bền vững nhất ông bà ta cũng có câu”Đại phú do thiên,Tiểu phú do cần”.

Chân thật sinh lời. Trong cuốn “Võ sĩ đạo: Linh hồn của nước Nhật”, khi nói đến thói làm ăn tráo trở của lái buôn Nhật bị người châu Âu chỉ trích vào thời đấy, Inazo Nitobe có viết “Vào tháng 11 năm 1880, Bismarck có gửi một thông tri đến các lãnh sự Đức ở nước ngoài, cảnh báo họ về “một sự thật đáng quan ngại về tình trạng các hàng hóa trên các tàu buôn của nước Đức không được tin cậy cả về chất lượng lẫn số lượng”.

Làm sao kiếm tiền nhanh nhất

Ngày nay (những năm 1900), chúng ta hầu như không nghe thấy ai than phiền về sự bất cẩn hay tín trí trá của người Đức trong nghề buôn. Trong vòng 20 năm, lái buôn nước Đức học được rằng là nói cho cùng thì làm ăn chân thật là cách kiếm lời nhanh nhất.

Giờ đây, lái buôn của chúng tôi (nước Nhật), đã lĩnh hội được điều đó. Khi một đất nước mở cửa cho nền kinh tế thị trường, thì việc xuất hiện một bộ phận những người muốn kiếm lời trong ngắn hạn bằng thói gian dối, biển lận là dễ hiểu. Dẫu rằng ở những nước nổi tiếng kỷ luật bậc nhất thế giới như Đức hay Nhật cũng vậy.

Thế nhưng người ta học được rất nhanh rằng đến cuối cùng thì uy tín mới là mặt hàng kiếm lời nhanh nhất, vậy nên đến tận ngày nay, hàng hóa Đức hay Nhật Bản vẫn nổi tiếng vì chất lượng của mình. Một bài học nghe có vẻ đơn giản, nhưng phải mất hàng chục năm để một quốc gia thấm được tinh thần ấy.

Cách đây 3, 4 năm tôi có nói chuyện với một doanh nhân đã lăn lộn gần 20 năm buôn bán làm ăn với Nhật, Hàn, Trung. Anh ấy nói “Cái điểm khác biệt giữa làm ăn với người Nhật và người Hàn là: Khi làm ăn với người Nhật thì họ sẽ lôi hết tất cả xấu tốt ra đặt trước mặt mình, rồi bảo: “Đấy, mày làm thì làm không làm thì nghỉ”. Còn làm với người Hàn thì họ sẽ chỉ nói điểm tốt mà không đề cập đến điểm xấu.

Một người bạn Mỹ của tôi đã từng sống nhiều năm ở cả Nhật Bản và Hàn Quốc có nhận xét: “Cả ở Nhật lẫn ở Hàn, họ đều học “như trâu”, nhưng điểm khác biệt là trong giờ kiểm tra, nếu có thể quay cóp mà chắc chắn không bị phát hiện thì người Hàn sẽ làm, còn người Nhật thì không”.

Hàn Quốc bắt đầu kinh tế thị trường từ đầu những năm 1960, có thể còn có yếu tố văn hóa ảnh hưởng ở đây, nhưng cho dù chậm hơn Nhật thì với những công ty lớn của họ đang vươn ra toàn cầu, tôi cho rằng họ đã ít nhiều nhận ra rằng thành thật trong kinh doanh không chỉ là vấn đề về đạo đức mà còn về cả lợi nhuận.

Mấy năm nay đọc báo, thấy dư luận trong nước càng ngày càng ca thán về tình trạng chặt chém, lừa đảo khách hàng. Nước ta đi theo kinh tế thị trường chậm hơn người khác cả trăm năm,  mà quá trình học hỏi cũng chậm hơn, thì không cách nào đuổi kịp người ta.

Việc các doanh nghiệp, hộ kinh doanh chọn bán hàng cho một người khách để lấy 5 đồng thay vì bán cho mười người để lấy của mỗi người một đồng, không phải là một lựa chọn khó hiểu. Nhưng cũng như ở những nước khác, họ sẽ dần dần nhận ra rằng lối ăn xổi, bóc ngắn cắn dài đó không phải là cách kiếm tiền hiệu quả nhất.

Đã có một bộ phận doanh nghiệp Việt Nam nhận ra điều này, nhưng ở trong một môi trường mà số đông chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, họ bị thiệt thòi cả về uy tín chung lẫn về lợi nhuận.

Sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ học được bài học mà người Đức hay người Nhật đã học được cách đây hơn 120 năm: “Honesty is the best policy” – “Thật thà là cách làm việc tốt nhất”. Nhưng học được càng muộn thì cái giá phải trả càng đắt và bài học càng đớn đau.

Nguyễn Hoàng Thành Doanh

5 BÀI HỌC VỀ CUỘC SỐNG

5 bài học rất cần cho cuộc sống

Cuộc sống dạy cho ta những bài học quý giá mà ta nên biết trân trọng để đứng vững giữa cuộc đời! Cùng đọc và suy ngẫm những bài học cuộc sống ý nghĩa !

Bài học về sự quan tâm

Trong tháng thứ hai của khoá học y tá, vị giáo sư của chúng tôi đã cho chúng tôi một câu hỏi hết sức bất ngờ trong bài thi vấn đáp. Tôi đã lướt qua hầu hết các câu hỏi trong bài thi, và ngạc nhiên dừng lại ở câu hỏi cuối cùng: “Hãy cho biết tên người phụ nữ quét dọn trường
học của chúng ta?”. Một câu hỏi không có trong chuyên môn, chắc đây chỉ là một câu hỏi đùa thôi. Tôi đã nghĩ vậy! Thật ra, tôi đã nhìn thấy người phụ nữ đó vài lần. Cô ấy cao, tóc sẫm màu và khoảng chừng 50 tuổi nhưng làm sao mà tôi có thể biết được tên cô ta cơ chứ?
Tôi đã kết thúc bài làm của mình với câu cuối cùng bị
bỏ trống. Cuối giờ kiểm tra, một sinh viên đã hỏi vị giáo sư: “Liệu ông có tính điểm cho câu hỏi cuối cùng kia không?”, ông ta trả lời: “Chắc chắn rồi”, rồi ông nói tiếp: “Trong công việc, các em sẽ gặp rất nhiều người, tất cả họ đều
quan trọng, họ xứng đáng được nhận sự quan tâm của các em, dù chỉ là một nụ cười hay một câu chào”.
Tôi đã không bao giờ quên bài học đó trên mỗi bước
đường đời của mình sau này, và tôi cũng không bao giờ quên tên của người phụ nữ đó – cô Dorothy.

Bài học về sự giúp đỡ

Trong một đêm mưa bão bất thường trên đường phố Alabama vắng vẻ, lúc đó đã 11:30 khuya, có một bà lão da đen vẫn cứ mặc cho những ngọn roi mưa quất liên hồi vào mặt, cố hết sức vẫy vẫy cánh tay để xin đi nhờ xe.
Một chiếc xe chạy vút qua, rồi thêm một chiếc xe nữa, không ai để ý đến cánh tay dường như đã tê cứng vì
lạnh cóng. Mặc dù vậy, bà lão vẫn hy vọng và vẫy chiếc xe kế tiếp. Một chàng trai da trắng đã cho bà lên xe (mặc cho cuộc xung đột sắc tộc 1960). Bà lão trông có vẻ rất vội vã, nhưng cũng không quên cám ơn và ghi lại địa chỉ của chàng trai.
Bảy ngày trôi qua, cánh cửa nhà chàng trai tốt bụng vang lên tiếng gõ cửa. Chàng trai ngạc nhiên hết sức khi thấy một cái ti vi khổng lồ ngay trước cửa nhà mình. Một lá thư được đính kèm, trong đó viết: “Cám ơn cháu vì đã cho bà đi nhờ xe vào cái đêm mưa hôm ấy. Cơn mưa không những đã làm ướt sũng quần áo mà nó còn làm lạnh buốt trái tim và tinh thần của bà nữa. Rồi thì lúc đó cháu đã xuất hiện như một thiên thần. Nhờ có cháu, bà đã được gặp người chồng tội nghiệp của mình trước khi ông ấy trút hơi thở cuối cùng. Một lần nữa bà muốn cám ơn cháu đã không nề hà khi giúp đỡ bà.” Cuối thư là dòng chữ: “Chân thành – Bà Nat King Cole”

Bài học về lòng biết ơn

Vào cái thời khi mà món kem nước hoa quả còn rất rẻ tiền, có một câu chuyện về cậu bé 10 tuổi thế này:
Ngày nọ, Jim – tên của cậu bé – sau một hồi đi qua đi lại, ngó nghiêng vào cửa hàng giải khát đông nhất nhì thành phố, nơi có món kem nước hoa quả mà cậu rất thích, mạnh dạn tiến lại gần cái cửa, đẩy nhẹ và bước vào. Chọn một bàn trống, cậu nhẹ nhàng ngồi xuống ghế và đợi người phục vụ đến.

Chỉ vàip hút sau, một người nữ phục vụ tiến lại gần Jim và đặt trước mặt cậu một ly nước lọc. Ngước nhìn cô phục vụ,
cậu bé hỏi: “Cho cháu hỏi bao nhiêu tiền một ly kem nước hoa quả ạ?”. “50 xu“, cô phục vụ trả lời. Nghe vậy, Jim liền móc trong túi quần ra một số đồng xu lẻ,nhẩm tính một hồi, cậu hỏi tiếp: “Thế bao nhiêu tiền một ly kem bình thường ạ?”. “35 xu”, người phục vụ vẫn kiên nhẫn trả lời cậu bé mặc dù lúc đó khách vào cửa hàng đã rất đông và đang đợi cô. Cuối cùng, người nữ phục vụ cũng mang đến cho Jim món kem mà cậu yêu cầu, và sang phục vụ những bàn khác. Cậu bé ăn xong kem, để lại tiền trên bàn và ra về.
Khi người phục vụ quay trở lại để dọn bàn, cô ấy đã bật khóc khi nhìn thấy 2 đồng kẽm (1 đồng bằng 5 xu) và 5 đồng xu lẻ được đặt ngay ngắn trên bàn, bên cạnh 35 xu trả cho ly kem mà Jim đã gọi – Jim đã không thể có món kem nước hoa quả mà cậu ấy thích bởi vì cậu ấy chỉ có đủ tiền để trả cho một đĩa kem bình thường và một ít tiền boa cho cô.

Bài học về sự tự giác và trách nhiệm

Xưa thật là xưa, có một ông vua nọ, một hôm ông ta sai quân lính đặt một tảng đá lớn nằm chắn ngang đường đi. Xong, ông nấp vào một bụi cây gần đấy và theo dõi.
Lần lượt ông ta thấy, những thương nhân giàu có đi qua, rồi đến những cận thần của ông đi qua, nhưng không ai có ý định xê dịch tảng đá sang bên nhường chỗ cho lối đi cả, họ chỉ lẩm nhẩm đổ lỗi cho nhà vua vì đã không cho người giữ sạch sẽ con đường.

Một lúc sau, nhà vua nhìn thấy một người nông dân đi tới với một xe rau cồng kềnh nặng trĩu. Nhìn thấy tảng đá, người nông dân liền ngừng xe và nhảy xuống đất, cố hết sức mình ông ta đã đẩy được tảng đá sang bên kia vệ đường. Vừa làm ông ta vừa lẩm bẩm: “Thật không may nếu có ai đó không thấy mày và vấp phải, chắc là sẽ đau lắm đây”. Xong đâu đấy, khi người nông dân quay trở lại xe để tiếp tục đi, bỗng ông nhìn thấy một bao tiền to đùng đặt ngay chỗ mà ông đã di chuyển tảng đá. Đó là một món quà của đức vua cho người nào dịch chuyển được tảng đá

Câu chuyện của người nông dân này đã giúp chúng ta nhận ra một điều quý giá mà rất nhiều người trong chúng ta không bao giờ nhận thấy: Vật cản đôi khi cũng có thể là một cơ hội tốt.

Bài học về sự hy sinh

Đã lâu lắm rồi, nhiều năm đã trôi qua, khi tôi còn là tình nguyện viên tại một bệnh viện, tôi có biết một cô gái nhỏ tên Liz – cô bé đang mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo.
Cơ hội sống sót duy nhất của cô là được thay máu từ người anh trai 5 tuổi của mình, người đã vượt qua được cơn bạo bệnh tương tự một cách lạ thường nhờ những kháng thể đặc biệt trong cơ thể. Bác sĩ đã trao đổi và giải thích điều này với cậu bé trước khi yêu cầu cậu đồng ý cho cô em gái những giọt máu của mình. Lúc ấy, tôi đã nhìn thấy sự lưỡng lự thoáng qua trên khuôn mặt bé nhỏ kia. Cuối cùng, với một hơi thở thật sâu và dứt khoát, cậu bé đã trả lời: “Cháu đồng ý làm điều đó
để cứu em cháu”. Nằm trên chiếc giường kế bên em gái để thuận tiện hơn cho việc truyền máu, cậu bé liếc nhìn em gái và đôi mắt ngời lên niềm vui khi thấy đôi má cô bé hồng lên theo từng giọt máu được truyền sang từ người cậu. Nhưng rồi, khuôn mặt cậu bỗng trở nên tái xanh đầy lo lắng, cậu bé ngước nhìn vị bác sĩ và hỏi với một giọng run run: “Cháu sẽ chết bây giờ phải không bác sĩ?” Thì ra, cậu bé nhỏ của chúng ta đã nghĩ rằng cậu ta sẽ cho cô em gái tất cả máu trong người mình để cứu cô bé và rồi cậu sẽ chết thay em mình.

Bạn thấy không, sau tất cả những hiểu lầm và hành động của mình, cậu bé đã có tất cả nhờ đức hy sinh… Cuộc sống có câu: “Hãy cho đi thứ bạn có, rồi bạn sẽ được đền bù xứng đáng”.