Phong tục tập quán của các dân tộc, giáo lý của các
tôn giáo đều khuyên dạy, đề cao và hướng con người đến việc nhận thức và thể
hiện lòng hiếu hạnh của mình đối với đấng sinh thành. Đặc biệt nước ta với nền
văn minh phát triển từ rất lâu, văn hóa Nho-Phật-Lão đã ảnh hưởng sâu đậm trong
xã hội ngay từ thời lập quốc. Chữ hiếu đã hình thành và tồn tại trong từng cá
nhân như là bản tính tự nhiên vốn có từ khi chúng ta mới chào đời.
“Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
"Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu”
Mỗi người Việt Nam, không ai là không thuộc nằm lòng
những câu câu ca dao ấy và chúng ta có thường xuyên nhớ tới, để tìm cách thể
hiện lòng hiếu thảo của mình trong thực tế ở mức độ như thế nào, còn tùy thuộc
vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi người.
Hơn nữa, do khả năng nhận thức của mỗi cá nhân có sai
biệt, nên chữ hiếu có được ý thức và thực hiện ở mức độ cao hay thấp, lại tùy
thuộc vào khả năng nhận thức của người đó.
Nói tới “Đạo hiếu” trong xã hội ngày nay, chúng ta không
khỏi băn khoăn lo lắng. Nền đạo đức bị suy đồi, con người bị cuốn hút vào chủ
nghĩa “thực dụng”. Vật chất và tiền bạc đang ngự trị cuộc sống. Vì thế, vấn đề
chăm sóc cha mẹ già trở nên gánh nặng, nói gì đến chữ hiếu.
Từ ngàn xưa, dân-tộc Việt-Nam ảnh hưởng tinh-thần Khổng giáo, lấy lễ giáo làm gốc, đạo-đức, luân-lý là nguyên tắc của cuộc sống. Gia- đình, xã-hội có tôn-ti trật tự; coi : Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là phương châm của con người. Do đó, vấn đề “Hiếu thảo” đã được Đức Khổng-Tử đặt thành kinh để dạy và đã viết thành sách “Hiếu kinh” được gồm tóm những lời sau đây:
Nuôi vui, ở kính, bệnh lo,
Tang thương, tế cẩn, sao cho trọn nghì.
Đạo hiếu là đầu của đạo làm người, là nền tảng đạo đức của xã hội. Thầy Mạnh-Tử nòi:” Không trọn đạo với cha mẹ không đáng làm người”. Trong Phật-giáo có răn dạy: “Vạn ác dâm vi thủ, Bách thiện hiếu vi tiên”. Trong kinh Bổn Sư Đức Phật dạy: ”Cha mẹ đối với con, ân đức cao nặng, sâu dầy, ân đức sinh thành từ tâm bú mớm, ân đức tắm giặt, nuôi nấng trưởng thành, ân đức các món cần dùng...Cha mẹ luôn muốn con luôn được vui…Nhớ con, thương con như bóng với hình”. Tôn kính cha mẹ tức là tôn kính Phật.
Nói đến đạo Ông bà : Người Việt coi việc thờ kính cha mẹ, tổ tiên là việc làm linh thiêng nhất. Dân-tộc Viêt-Nam tin rằng: ông bà, cha mẹ qua đời, vong hồn các ngài vẫn gần gũi và luôn phù hộ cho con cháu. Niềm tin tưởng đó hình thành một tín ngưỡng “Thờ cúng Tổ tiên”, vì thế người xưa có câu:
Thà đui mà giữ đạo nhà,
Còn hơn có mắt ông cha chẳng thờ.
Đạo hiếu trong đạo Công Giáo: trong 10 giới răn của Thiên- Chúa, giới răn thứ 4 “Thảo kính cha mẹ”. Trong sách “Huấn ca” những lời khuyên nhủ con cái có bổn phận với cha mẹ thật giá trị: “ Con ơi, hãy săn sóc cha mẹ con khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn con cũng phải cảm thông, đừng cậy mình sung sức mà khinh dể người”. Thánh Phaolô cũng dạy: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ, đó là điều răn thứ nhất, để ngươi đựơc phúc và hưởng thọ trên mặt đất này”. Thật vậy, Thiên-Chúa muốn rằng: sau Người, chúng ta phải tôn kính cha mẹ, là những vị sinh thành, dạy dỗ chúng ta thay quyền Chúa. Nên con cái bắt buộc phải giữ trọn đạo hiếu hạnh với cha mẹ, đây cũng là lệnh truyền của Thiên-Chúa.
Ngược dòng lịch sử, trong kho tàng văn chương Việt- Nam có biết bao những tác phẩm đề cao tinh thần “Đạo- hiếu”. Cụ Nguyễn-Du, ông nói về chữ hiếu:
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn.
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
Trong “Gia huấn ca”, Nguyễn Trãi đã nói lên sự quan hệ giữa con cái với cha mẹ:
Cù lao đôi đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.
Trong ca-dao Việt-Nam, với những lời lẽ mộc mạc, chân thành cũng đã nói lên công lao dưỡng dục của cha mẹ:
Công cha, nghĩa mẹ, cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ song thân.
Hay :
Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Hoặc trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày trước:
Từ ngàn xưa, dân-tộc Việt-Nam ảnh hưởng tinh-thần Khổng giáo, lấy lễ giáo làm gốc, đạo-đức, luân-lý là nguyên tắc của cuộc sống. Gia- đình, xã-hội có tôn-ti trật tự; coi : Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là phương châm của con người. Do đó, vấn đề “Hiếu thảo” đã được Đức Khổng-Tử đặt thành kinh để dạy và đã viết thành sách “Hiếu kinh” được gồm tóm những lời sau đây:
Nuôi vui, ở kính, bệnh lo,
Tang thương, tế cẩn, sao cho trọn nghì.
Đạo hiếu là đầu của đạo làm người, là nền tảng đạo đức của xã hội. Thầy Mạnh-Tử nòi:” Không trọn đạo với cha mẹ không đáng làm người”. Trong Phật-giáo có răn dạy: “Vạn ác dâm vi thủ, Bách thiện hiếu vi tiên”. Trong kinh Bổn Sư Đức Phật dạy: ”Cha mẹ đối với con, ân đức cao nặng, sâu dầy, ân đức sinh thành từ tâm bú mớm, ân đức tắm giặt, nuôi nấng trưởng thành, ân đức các món cần dùng...Cha mẹ luôn muốn con luôn được vui…Nhớ con, thương con như bóng với hình”. Tôn kính cha mẹ tức là tôn kính Phật.
Nói đến đạo Ông bà : Người Việt coi việc thờ kính cha mẹ, tổ tiên là việc làm linh thiêng nhất. Dân-tộc Viêt-Nam tin rằng: ông bà, cha mẹ qua đời, vong hồn các ngài vẫn gần gũi và luôn phù hộ cho con cháu. Niềm tin tưởng đó hình thành một tín ngưỡng “Thờ cúng Tổ tiên”, vì thế người xưa có câu:
Thà đui mà giữ đạo nhà,
Còn hơn có mắt ông cha chẳng thờ.
Đạo hiếu trong đạo Công Giáo: trong 10 giới răn của Thiên- Chúa, giới răn thứ 4 “Thảo kính cha mẹ”. Trong sách “Huấn ca” những lời khuyên nhủ con cái có bổn phận với cha mẹ thật giá trị: “ Con ơi, hãy săn sóc cha mẹ con khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn con cũng phải cảm thông, đừng cậy mình sung sức mà khinh dể người”. Thánh Phaolô cũng dạy: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ, đó là điều răn thứ nhất, để ngươi đựơc phúc và hưởng thọ trên mặt đất này”. Thật vậy, Thiên-Chúa muốn rằng: sau Người, chúng ta phải tôn kính cha mẹ, là những vị sinh thành, dạy dỗ chúng ta thay quyền Chúa. Nên con cái bắt buộc phải giữ trọn đạo hiếu hạnh với cha mẹ, đây cũng là lệnh truyền của Thiên-Chúa.
Ngược dòng lịch sử, trong kho tàng văn chương Việt- Nam có biết bao những tác phẩm đề cao tinh thần “Đạo- hiếu”. Cụ Nguyễn-Du, ông nói về chữ hiếu:
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn.
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
Trong “Gia huấn ca”, Nguyễn Trãi đã nói lên sự quan hệ giữa con cái với cha mẹ:
Cù lao đôi đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.
Trong ca-dao Việt-Nam, với những lời lẽ mộc mạc, chân thành cũng đã nói lên công lao dưỡng dục của cha mẹ:
Công cha, nghĩa mẹ, cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ song thân.
Hay :
Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Hoặc trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày trước:
“Cha sinh mẹ
dưỡng,
đức cù lao lấy lượng nào đong.
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.”
Nhưng thờ kính cha mẹ như thế nào? Đó là: Mến yêu,
cung kính, đỡ đần cho cha mẹ, vui vẻ vâng lời (Làm con phải biết phận con,
mến yêu cung kính mới tròn thảo ngay,
việc làm nặng
nhẹ đỡ tay,
khi sai khi bảo mặt mày hân hoan,
lời thưa tiếng
nói dịu dàng,
cứng đầu cứng
cổ dọc ngang thì đừng _Ca dao),
Chăm sóc phụng
dưỡng: Sớm thăm tối viếng (Mẹ già ở túp lều tranh, sớm thăm tối viếng mới đành
dạ con _Ca dao), quạt nồng ấp lạnh (Thức khuya dậy sớm cho cần, quạt nồng ấp
lạnh giữ phần đạo con _ Ca dao ), nuôi dưỡng cha mẹ (Dây bầu dây mướp cùng leo,
sớm hôm nuôi mẹ, giàu nghèo sá chi _Ca dao) v.v... Đó là quan niệm dân gian về
chữ hiếu.
Trong nho giáo có hẳn một quyển sách riêng dạy về đạo
hiếu gọi là Hiếu kinh. Sau đây là một số lời dạy của các bậc hiền triết Nho gia
về đạo hiếu: Đệ tử của đức Khổng Tử, thầy Mạnh Tử dạy về hành động hiếu: (Việc
phụng sự cha mẹ của người con hiếu là: Cư xử hết lòng kính trọng, dưỡng nuôi cố
làm đẹp lòng, bệnh đau tận tâm lo lắng, tang ma hết sức xót thương, tế lễ
nghiêm trang rất mực)… Kinh Thi cũng dạy: (Cha sinh ta, mẹ nuôi ta. Hỡi ôi cha mẹ sinh ta khó
nhọc, muốn báo ơn sâu, như vói lên trời cao chẳng đặng).
Trong Phật giáo hiếu đạo được đề
cập đến một cách trọn vẹn và hoàn hảo. Đức Phật dạy: “Điều thiện tối cao không
gì hơn hiếu, điều ác cùng cực không gì hơn bất hiếu” (kinh Nhẫn Nhục), “Gặp
thời không có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật” (kinh Đại Tập),
“Quả đất người đời cho là nặng,
mẹ hiền ơn nặng quá hơn nhiều”
Đức Phật đã dạy mỗi người con làm
cách nào để đáp đền công ơn cha mẹ một cách đầy đủ, trọn vẹn: Đối với đạo Phật,
những việc làm xuất phát từ lòng hiếu thảo mang lại lợi ích thiết thực cho cha
mẹ trong hiện tại và tương lai mới chính là hành động hiếu. Theo Phật giáo, con
người không chỉ có kiếp sống hiện tại mà còn có kiếp sống vị lai, do đó người
con hiếu thảo cần phải chăm lo cho cha mẹ cả đời sống sau khi từ giã cõi đời
này. Người con hiếu trong đạo Phật luôn ưu tư: Sau khi chết cha mẹ sẽ đi về
đâu? Làm sao để giúp cha mẹ có được niềm an lạc hạnh phúc trong đời sống hiện
tại và đời sống sau khi chết?
Tương quan giữa cha mẹ và con cái là tương quan khái quát, nó mở
rộng đến những mối tương quan khác. Do vậy, thực hiện lòng hiếu thảo đối với
cha mẹ tạo lập sự hòa thuận, êm ấm và hạnh phúc trong gia-đình. Gia-đình có yên
ấm thì xã-hội an vui, vì gia-đình là tế bào của xã-hội. Nhìn vào đời sống xã-hội
hôm nay, chúng ta không khỏi băn khoăn lo lắng. Nói tới chữ “Hiếu”, có người
cho rằng lỗi thời. Khoa học tiến bộ, chủ nghĩa thực dụng chi phối, việc chăm
sóc cha mẹ già đã có viện dưỡng lão. Vấn đề ngày càng trở nên “máy móc hóa” nhờ
những phương tiện hiện đại của xã - hội công nghiệp. Hơn nữa, sự khác biệt giữa
hai thế hệ: già trẻ, giữa hai quan niệm sống: xưa và nay, của cha mẹ và con
cái. Việc giữ lòng hiếu thảo đôi khi cản trở công việc làm ăn. Xã-hội hiện nay
đề cao thái quá tính độc lập của cá nhân, nên có cha mẹ già coi như một “gánh nặng”.
Cũng chính tuổi già của cha mẹ làm thay đổi tính nết: dễ cảm, hay tủi hờn, chấp
nhất, sinh ra khó tính, làm cho con cháu khó chịu, rồi khinh thường ông bà. Trường
hợp con cái khá giả thường phải giao tiếp khách làm ăn lớn, có mặt của cha mẹ
là một trở ngại. Vì thế, gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão, hay đưa về quê; mỗi
tháng gửi cho ông bà ít tiền, thế là xong. Trường hợp ngược lại, càng nảy sinh
những phức tạp, những đau khổ hơn cho cha mẹ. Vì gia-đình túng bấn, con cái cáu
giận, trút những bực tức bằng cách: đánh con, mắng vợ, chửi chó, mắng mèo… Còn
biết bao cảnh đau lòng cho cha mẹ, nảy sinh tự ti mặc cảm, buồn. Có lúc các
ngài than thầm, khóc vụng, tủi cho số phận.


.jpg)








