Các nhà văn hai miền gặp nhau ở Sài Gòn những ngày đầu giải phóng
|
Sau ngày giải phóng miền Nam, 30/4/75, Trung ương cục
miền Nam có mời một số văn nghệ sĩ miền Bắc vô thăm. Và thế là mừng mừng
tủi tủi, biết bao chuyện hôm nay đã thành kỷ niệm đẹp.
Các anh Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên,
Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài… và hầu hết
những văn nghệ sĩ tên tuổi đã có mặt ngay những ngày đầu miền Nam giải
phóng. Bởi Sài Gòn cũng như miền Nam là địa phương hấp dẫn với những đề
tài nóng bỏng, các anh chị từng ấp ủ từ lâu.
Người vô Sài Gòn giải phóng sớm hơn cả là nhà văn
Nguyễn Công Hoan, rồi tới vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư, nhà văn Nguyễn
Tuân, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát…
Vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư đi rất nhiều nơi nói
chuyện thơ. Anh nói về sự đổi đời của thơ mới, sự thoát xác của thơ anh
và anh nói say sưa về thơ Hồ Chủ tịch. Anh nói: “Một tâm hồn thơ uyên
bác như Hồ Chủ tịch tạo ra cho mọi người dân Việt Nam một niềm tin vào
trái tim người lãnh đạo…”.
Lưu Trọng Lư nói như đáp lại lòng mong mỏi của khán giả
miền Nam muốn biết về sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Bắc. Mỗi lần
nghỉ lại có tiết mục ngâm thơ do chính vợ anh dạo trên đàn tranh để một
người con gái đang học trường nghệ thuật diễn ngâm… Những buổi nói
chuyện thơ, ngâm thơ như vậy, nếu không vì thời gian hạn chế, không biết
đến lúc nào mới kết thúc được.
Anh Xuân Diệu về Mỹ Tho được đón tiếp nồng nhiệt. Người
ta tự hào về anh. Chính ở nơi đất Tiền Giang này Xuân Diệu đã viết
những bài thơ tình để đời và tiếng tăm anh không chỉ ở trong nước. Có
bạn đã nói với anh ngay tại buổi bình thơ rằng: Đã theo dõi những bước
đi của Xuân Diệu trên nhiều diễn đàn quốc tế. Và anh đã xin phép được ôm
hôn Xuân Diệu trong tiếng vỗ tay của cả hội trường.
Anh Nguyễn Xuân Khoát đã tới tận nhà Nguyễn Gia Trí
thăm bạn, mặc dù nhà họa sĩ tài danh này của nhóm Tự Lực Văn Đoàn rất
mặc cảm. Anh Nguyễn Xuân Khoát lúc đó là Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam,
ân cần mời cơm họa sĩ Nguyễn Gia Trí tại khách sạn anh đang ở…
Người ta nói có lẽ vì tình cảm chân thật của Nguyễn
Xuân Khoát mà Nguyễn Gia Trí đã không từ bỏ quê hương, ở lại đất nước
tới giờ phút cuối cùng của cuộc đời. Trước đó Nguyễn Gia Trí đã kịp bán
cho Viện Bảo tàng Mỹ thuật thành phố một bộ tranh sơn mài, để lưu niệm.
Nghệ sĩ Kim Cương, người nổi tiếng nơi Sài Gòn đô hội
này với những bộ phim, những vở kịch độc đáo, ngày nào cũng tới nhà
khách Ban Tuyên huấn Trung ương cục mời nhà văn Nguyễn Công Hoan bữa xem
kịch, bữa dự hội thảo, bữa tham quan… và do chính Kim Cương lái xe tới
đón và đưa về tận cơ quan.
Cho tới một hôm, nghệ sĩ Kim Cương nói thiệt rằng nghệ
sĩ Bảy Nam (mẹ nghệ sĩ Kim Cương) rất có lòng mong và mời nhà văn Nguyễn
Công Hoan tới nhà dùng một bữa cơm. Anh Nguyễn Công Hoan có nét cười
rất hiền và với những tình cảm trân trọng như vậy, anh không từ chối với
ai bao giờ.
Ngay khi cánh cổng vừa mở, anh Nguyễn Công Hoan vào
nhà, nghệ sĩ Bảy Nam đã đứng ngay đó ôm lấy Nguyễn Công Hoan và nói:
“Đây, người tình của tôi… Bao nhiêu năm trông đợi, bây giờ mới được giáp
mặt…”. Anh Nguyễn Công Hoan cúi xuống. Hai mái đầu bạc chạm nhau. Một
luồng tình cảm xúc động, tràn ngập gian phòng.
Anh Nguyễn Công Hoan được dẫn tới chỗ ngồi. Nghệ sĩ Bảy
Nam gần như không ăn uống gì, chỉ ngồi nhìn Nguyễn Công Hoan, gắp cho
anh từng miếng cá, chan cho anh mấy muỗng canh chua, rồi mắm. Hình như
cả bàn tiệc gia đình này, chỉ cầm đũa và ngắm nhìn hai người bạn già nói
chuyện.
Nghệ sĩ Bảy Nam nói về những tiểu thuyết của Nguyễn
Công Hoan được chuyển thể cải lương và nghệ sĩ Bảy Nam, nối theo duyên
nghiệp của người chị là nghệ sĩ Năm Phỉ, sắm những vai chính và nổi lên
như những đào hát thượng thặng trước đây.
Nghệ sĩ Bảy Nam nói: “Đó là công của anh… không có tác
giả làm sao lớp diễn viên chúng tôi có cơ may gặt hái những vòng nguyệt
quế của thánh tổ ban cho… Từ đấy, tôi mong có được một ngày gặp anh… Hôm
nay thánh tổ đã cho tôi cơ hội hiếm có này… Biết nói với anh thế nào
cho phải… Biết ơn anh, biết ơn nhiều lắm…”.
Một hôm anh Nguyễn Tuân hỏi: “Mình muốn đi thăm Vũ Bằng
được không?”. Tôi trả lời: “Được chớ sao không. Để tôi nói văn phòng
gửi một công văn báo trước cho anh Vũ Bằng”. Anh Nguyễn Tuân bảo: “Viết
thư làm gì … quan cách lắm, gọi điện thoại có lẽ hơn”. Tôi nói: “Nhà Vũ
Bằng không có điện thoại”. Anh Nguyễn Tuân lại bảo: “Vậy ta cứ xông tới…
có lẽ thân mật hơn”.
Chúng tôi đem theo một chai cô-nhắc St Rémy, một gói
chả lụa nửa ký và một xâu nem chua… Bước vào căn nhà nhỏ của Vũ Bằng
trên con lộ chính của quận 4, nhìn thẳng sang hàng rào Cảng Sài Gòn.
Anh Vũ Bằng đang ngồi trên chiếc phản ngựa nhìn ra. Chỉ
thoáng một chút bất ngờ rồi bước ra reo lên: “Ông Nguyễn”. Hai người
ôm lấy nhau, Vũ Bằng dắt Nguyễn Tuân mời ngồi trên phản. Một cảnh sống
đạm bạc theo lối xưa. Bạn bè thân thiết cùng ngồi trên phản. Một chiếc
bàn nhỏ và bộ ghế mây đã chùng võng hẳn xuống, có lẽ để vậy cho bớt
trống căn nhà…
Nguyễn Tuân ngồi xếp bằng tròn, mở cái bọc ra. Vũ Bằng nhìn ngắm động tác của Nguyễn Tuân nói:
- Ông vẫn chu đáo lắm… Hồi này còn ken-cờ không? (Ken-cờ tiếng Pháp nghĩa là hút thuốc phiện).
Nguyễn Tuân cười mỉm:
- Mình bỏ lâu rồi, từ hồi lên Việt Bắc…
Vũ Bằng nói:
- Tôi cũng đoán vậy khi được tin ông làm Tổng thư ký
Hội Văn nghệ Việt Nam … Làm cái chức ấy mà ken-cờ thì làm sao người Cách
mạng chấp nhận được.Nguyễn Tuân nhìn thẳng Vũ Bằng, hỏi:
- Còn ông?
- Mình cũng giã từ nàng tiên … rồi. Có lẽ học tập ông
đó … Làm một thằng đàn ông mà không có nghị lực thì chẳng nên trò trống
gì trên đời cả…
Ngồi nhìn hai người bạn cũ nói chuyện, tôi có cảm tưởng
như có một duyên may nào đó cho phép tôi được ngồi chung chiếu với các
anh… Chị Vũ Bằng bưng ra một chiếc mâm nhôm có đủ thứ quà của Nguyễn
Tuân, còn có thêm một đĩa đậu phụ nướng đặt trên một chiếc đĩa cổ, một
mớ rau thơm, một vài trái ớt nhỏ và mấy múi chanh.
Anh Nguyễn Tuân đỡ lấy chiếc mâm, đặt ngay giữa phản và
đưa chai rượu mời Vũ Bằng mở nút. Anh Vũ Bằng khoan thai rót rượu ra
mấy chiếc ly mắt trâu, trắng muốt một màu bạch lạp làm cho màu rượu hồng
lên sóng sánh như mật.
Một tháng trước đó Vũ Bằng cũng đã ngồi uống rượu với
anh Nguyễn Công Hoan, tại một nhà hàng. Bữa đó trong bức thư trả lời của
anh Vũ Bằng gửi anh Nguyễn Công Hoan đề nghị một buổi gặp mặt, anh Vũ
Bằng đã mời anh Nguyễn Công Hoan tới nhà hàng Quốc Tế, ở ngay đường Lê
Thánh Tôn bây giờ, gần chợ Bến Thành.
Đây là một nhà hàng lớn. Bước qua cửa nhà hàng, tôi hơi
ngạc nhiên nhưng anh Vũ Bằng đã bước tới. Nhìn thấy tôi, anh Vũ Bằng
đưa mắt dò hỏi. Anh Nguyễn Công Hoan cho anh Vũ Bằng biết tôi là cán bộ
của cơ quan, cũng có viết văn chút ít… Anh cần có người hướng dẫn vì Sài
Gòn đối với anh còn bỡ ngỡ.
Anh Vũ Bằng bắt tay tôi và dắt cả hai chúng tôi ra khỏi
nhà hàng. Đường phố Sài Gòn, những ngày mới giải phóng, về chiều thật
nhộn nhịp. Chúng tôi phải né tránh tất cả những người bán mắt kiếng, bóp
da, chìa khóa, quần áo… để có thể đi lọt qua bên kia đường…
Anh Vũ Bằng dắt chúng tôi vòng qua đường sau ga xe lửa.
Anh Vũ Bằng nói với anh Nguyễn Công Hoan: “Tôi mời anh tới đó để anh dễ
tìm… Chúng ta vô đây thân tình và ấm cúng hơn”. Chúng tôi bước vào
một tiệm ăn nhỏ, sạch sẽ và vắng vẻ…
Hai anh gặp nhau không phải để ăn uống gì… Một ly nhỏ
rượu đế, suốt buổi chưa vơi được một nửa. Các anh nói chuyện với nhau là
chính. Anh Nguyễn Công Hoan hỏi thăm tình hình sức khỏe và gia đình anh
Vũ Bằng.
Anh Vũ Bằng hỏi thăm những người bạn cũ. Hình như những
bạn viết cùng anh thời Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội, anh không quên ai.
Anh Vũ Bằng hỏi tới đâu, anh Nguyễn Công Hoan trả lời tới đó.
Anh nói: “Các bạn cũ vẫn nhớ tới anh, vẫn theo dõi bước
đường sáng tác của anh… Những Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội,
Miếng lạ miền Nam… Anh em viết văn miền Bắc nhiều người có đọc…”. Tôi
cảm thấy anh Vũ Bằng như có một nỗi buồn nào đó. Anh nói chuyện nhỏ nhẹ,
thận trọng…
Nhưng anh Nguyễn Công Hoan lại hào hứng và sôi nổi…
nhiều lúc anh Nguyễn Công Hoan gắp thức ăn đặt vô bát của anh Vũ Bằng và
nhắc anh Vũ Bằng phải ăn đi. Anh còn hẹn bữa nào anh Vũ Bằng ra thăm
miền Bắc sẽ rủ nhau đi chén một bữa chả cá Lã Vọng để nhớ tới thời trai
trẻ những bữa rủng rẻng có tiền nhuận bút.
***
Anh Nguyễn Công Hoan rủ tôi tới thăm Tam Lang, tác giả
phóng sự Tôi kéo xe. Nhà ông nguyên chủ báo Tin Mới ở Hà Nội ngày nào
vẫn tỏ ra là một người bề thế.
Qua điện thoại khi nghe tôi nói anh Nguyễn Công Hoan có
ý tới thăm gia đình, Tam Lang nói liền: “Vậy thì tốt quá, muốn tới lúc
nào cũng được”. Nhưng tôi hỏi lại tới vào giờ nào, ngày nào thì tiện cho
gia đình? Tam Lang nói: “Sáng mai, chín giờ, chúng ta nói chuyện sau đó
ăn cơm trưa”.
Chiếc xe của cơ quan, không biết tiếp quản của cơ sở
nào mà nó chạy ì ạch mãi mới qua được chợ Cầu Ông Lãnh, đi thêm một đoạn
đường đá gồ ghề nữa mới tới được Cầu Muối. Bước xuống xe đi bộ, chúng
tôi thấy còn nhẹ nhàng thoải mái hơn lúc ngồi trên xe… Xuống một cái dốc
có mấy bực gạch, chúng tôi đi theo một ngõ nhỏ ngoằn ngoèo. Cả vợ chồng
Tam Lang đã đứng cửa đón chờ cho chúng tôi khỏi phải hỏi thăm.
Bên ngoài cái xóm có vẻ bình thường nhưng trong nhà Tam
Lang khá sang trọng: Tủ chè, trường kỷ, sa lông đều sạch bóng. Bàn làm
việc của chủ nhân phủ một tấm kiếng to, có đèn bàn, điện thoại, hồ sơ
ngăn nắp… Anh Nguyễn Công Hoan nhìn đời rất hóm. Anh quan sát một vòng
cả căn nhà rồi tủm tỉm cười nhìn chủ nhân như muốn nói: Tất cả các thứ
trang trí này chắc chắn đã phải chuẩn bị từ ngày qua khi trả lời điện
thoại.
Các anh ôn lại với nhau những kỷ niệm làm báo nửa thế
kỷ trước, những vui buồn, vinh nhục của người cầm bút dưới lưỡi kéo kiểm
duyệt của thực dân Pháp. Nhưng Tam Lang còn phải kéo dài thời lận đận
đó dưới thời miền Nam còn trong vòng hệ lụy của Mỹ-ngụy, cuối cùng đành
bỏ nghề về ở ẩn nơi xóm nhỏ này.
Những lúc nhớ nghề, Tam Lang giở những tập sách cũ của
bạn bè trước đây để nhớ nhau. Những Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan,
Nguyễn Tuân, Lan Khai, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư… đọc cho quên ngày
tháng.
Nhìn dáng vẻ của một tác giả cũng đã một thời nổi
tiếng, tôi cảm nhận đầy đủ cái nghiệp của nghề cầm bút. Một con người
trước mặt tôi đây, bệ vệ và hơi nặng cân.
Nhưng gần nửa thế kỷ trước, từ một người chủ báo, để
theo nghề Tam Lang đã đóng vai một người kéo xe thực thụ để có thực tế
viết phóng sự. Cũng may lúc đó, vóc dáng tác giả còn nhỏ bé, cầm chiếc
càng xe còn chạy được vài cuốc.
Chiếc xe kéo, có lẽ bạn đọc ngày nay nhiều người không
thể biết được chiếc xe kéo hình thù ra sao. Nó khác chiếc xích lô những
gì để có hai chiếc càng cho người ta đứng vào và kéo chạy đi.
Tôi hình dung thấy một Tam Lang với bộ quần áo nâu bạc
màu mua lại của một người bạn cũng kéo xe như mình, đầu đội chiếc nón lá
cũng không lành lặn gì, chân đi đôi dép bằng chiếc vỏ xe đạp cắt ra có
một cái khoen để đút ngón chân vào và phía sau có hai quai hậu để bám
vào chân cho chắc.
Hãy nghĩ xem, lúc đó đã mấy con đường có trải nhựa, hầu
hết là đường đá, đá dăm, đá cục… nhiều khúc lổn nhổn. Không có đôi dép
ấy thì chạy một đoạn độ mươi thước cũng khó chớ nói gì chạy đủ một
cuốc xe để có thể lấy tiền được của khách…
Vậy mà Tam Lang có lúc đã gặp một người bạn, nhờ có
chiếc nón rách nên người bạn không nhận ra ông chủ bút báo Tin Mới đang
kéo xe chạy trên đường phố Hà Nội. Tới lúc nhận mấy xu tiền công, Tam
Lang đã phải cúi mãi xuống để che bộ mặt của mình…
Lan man những câu chuyện xưa cũ bà vợ chủ nhân đã dọn
xong bàn ăn từ lúc nào và mời chúng tôi vào bữa. Gọi là bữa nhưng đây
chính là một bữa tiệc mừng bạn. Tam Lang giới thiệu chai rượu hổ cốt
nguyên chất rất cần cho tuổi già hay đau xương.
Nhìn Tam Lang và Nguyễn Công Hoan cùng nhau chúc rượu
tôi thấy rõ rằng một nhà báo viết văn và một nhà văn viết báo, phong
cách khác nhau nhiều lắm.
Nhà văn Phạm Tường Hạnh
|
|
|
Việt Báo (Theo_Tien_Phong)
| |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét