Trích hồi ký
TÔI LÀ TRẦN HÀ (HÀ CHƯƠNG)
Chương V
TÔI HỌC ĐÀN VÀ TÌM HIỂU ÂM NHẠC
Thôi đành vậy cây đàn tri kỷ
Ru hồn tôi như biển với bờ
Ngày còn đi học trường Huyện, tôi thường thấy bọn con trai thị trấn học lớp trên tụm năm, tụm bảy ôm đàn ghi ta nghêu ngao hát mấy bài “Không tên” của Vũ Thành An, mong chiếm lấy trái tim của các tiểu thư đài các, con của mấy nhà buôn giàu có ở thị trấn Vĩnh Điện. Rồi tỏ ra tự cho mình hiểu biết hơn bọn con trai nhà quê chúng tôi, bọn họ bằng thêu dệt nhiều câu chuyện li kỳ quanh những bài hát này và tác giả của nó. Lũ con trai quê mùa chúng tôi, lớn lên bên gốc rạ, “ăn tro, mò trấu” nghe tiếng đàn bập bùng cảm thấy thích thú làm sao và có phần ngưỡng mộ nữa là khác.
Ngày ấy, lũ chúng tôi cũng đáo để thật. Không thể chịu lép vế với bọn con trai thị trấn, nên nghĩ ra cách quyết đi tầm sư học đạo. Nói dóc cho oai vậy thôi, chứ làm sao mà không lép vế được nhĩ. Cái xóm nghèo Gò Gạch bé nhỏ của tôi so với thị trấn Vĩnh Điện là một trời, một vực. Vĩnh Điện là địa danh có tiếng của miền Nam trước đây, là trung tâm buôn bán, mang dáng dấp phố thị. Ở đó, con người có điều kiện giao du làm ăn, học tập, sinh hoạt đời sống tinh thần theo phong cách các đô thị lớn như Hội An, Đà Nẵng, Huế, Quy Nhơn, Sài Gòn… Vì vậy ở đó cũng có nhiều người nổi tiếng trong giới văn học nghệ thuật. Các nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ cấp thị trấn thì nhiều lắm.
Trước năm 1975, có một sự kiện văn nghệ làm nổi đình, nổi đám ở cái thị trấn này. Có ông tên là Đynh Trầm Ca, đảng viên Quốc dân đảng chống cộng khắc tiếng, nhưng có tài làm thơ, sáng tác nhạc. Nghe nói ông này cũng có nhiều quái chiêu lắm, thường có những cử chỉ, hành động khác người bình thường. Để mọi người biết là mình là thi sĩ, nhạc sĩ, ông ta thường ôm đầu đi dưới trời mưa, không đội nón mũ. Chỉ có thế thì không có gì đáng nói, ông ta viết được những bài thơ, những ca khúc có tiếng,vượt ra ngoài biên giới của một thị trấn tỉnh lẻ, vang đến tận Sài Gòn. Ca khúc Ru con tình cũ có tiếng vang trước năm 1975. Lúc đó người ta mới biết đến cái tên Đynh Trầm Ca. Nghe nói các danh ca nổi tiếng thời bấy giờ như Khánh Ly, Lệ Thu… ra tận Vĩnh Điện để gặp ông ta xin mua bản quyền và trình bày bài hát này. Còn thực hư thế nào, tôi cũng không rõ. Như thế đấy, đẳng cấp thị trấn là thế đấy. Cái xóm Gò Gạch của tôi với những mái nhà tranh đứng giữa cánh đồng, biệt lập với những làng xóm khác, đẳng cấp làm gì có ở đây!
Thế rồi, những đêm cuối tuần không học bài, tôi rủ bọn thằng Châu, thằng Thiệu con chú Bảy Thí xuống nhà anh Hải (Hải què) nghe anh đàn hát và nhờ anh chỉ cho mấy ngón. Ban đầu chúng tôi nhìn anh đàn và nghe anh hát. Anh Hải là người khuyết tật bẩm sinh. Tay chân của anh cong queo dị dạng, chỉ có khuôn mặt là nguyên lành. Cặp mắt anh sáng quắt ngời lên nét thông minh. Mẹ anh chết sớm, anh sống với người cha và dì ghẻ, nghe nói họ cũng ngược đãi với anh dữ lắm. Anh mở một lớp học vở lòng để dạy cho các em sắp vào lớp một. Anh sống nhờ những đồng tiền dạy học ít ỏi đó. Thời kỳ trước 1975, cha anh ở tù của chế độ cũ, mẹ anh nuôi anh từ khi mới lọt lòng. Chiến tranh lan tràn khắp nơi, làng quê bom đạn cày xới, mẹ anh mang anh ra tận quận Ba thị xã Đà Nẵng sinh sống. Nhà anh ở gần nhà cậu Bảy của tôi. Đến khi anh mười chín, hai mươi thì mẹ anh bỏ anh mà đi.Lúc đó cha anh vẫn chưa ra tù. Anh trơ trọi với tấm thân tật nguyền giữa cuộc đời bể khổ, thật tội nghiệp anh quá chừng.
Người ta thường nói có tật có tài. Đối với anh thì quả thật không sai chút nào. Chắc anh đọc sách nhiều nên chuyện gì cũng biết, và có lối kể chuyện lưu loát, cuốn hút người nghe. Gần anh, tôi không thấy anh mặc cảm với thân phận tật nguyền. Anh luôn yêu cuộc đời và tràn đầy niềm tin trước cuộc sống.Với một người như thế, chắc anh không bao giờ dám mơ đến hạnh phúc lứa đôi. Thế nhưng đến một ngày định mệnh, anh choáng ngợp trước tình yêu hạnh phúc.Trời, Phật,Thánh,Thần xui khiến thế nào mà đã ban tặng cho anh một cô gái xinh đẹp. Chàng Trương Chi ngày nay không giấu mặt và nàng Mỵ Nương là một thôn nữ một nắng hai sương, không ở lầu son gác tía, nên hạnh phúc đến với họ trọn vẹn chứ không phải như chàng Trương Chi ngày xưa tương tư đến chết, để nàng Mỵ Nương ôm hận bội tình để lại trong dân gian lưu truyền một chuyện tình ngang trái.
Chị ấy ở làng bên, vì mê tiếng đàn của anh, mê ánh mắt sáng ngời như ngôi sao hôm của anh, thương thân phận tật nguyền của anh, rồi yêu anh say đắm và trở thành người bạn đời của anh cho đến tận bây giờ. Chị ấy mạnh khoẻ, đẹp nết, đẹp người, sinh cho anh mấy đứa con khoẻ mạnh. Tôi thật sự mừng cho anh và thầm biết ơn chị ấy. Chị là người đáng trân trọng, đáng được ngợi ca.
Nhưng một điều tôi muốn nói về anh hôm nay không phải những chuyện tôi nêu ở trên mà là tôi muốn nói đến tài đánh đàn ghi ta của anh. Anh chính là người thầy đầu tiên dạy tôi học đàn. Anh đánh đàn thật hay. Những đêm trăng thanh, ánh trăng bàng bạc rãi xuống những ngôi nhà tranh, xuống ruộng đồng, xuống con sông đào trước mặt nhà anh.Cái thời thời gian và không gian dành cho thế giới loài chim và côn trùng hòa ca lên khúc muôn đời. Tiếng con quốc lẻ đôi kêu khắc khoải thảm thiết ngoài bờ sông nghe đến tội nghiệp, hoà âm cùng với tiếng con bìm bịp kêu trước, tiếng con cuốc bồi theo sau nhịp nhàng. Cảnh vật ấy, âm thanh ấy khiến cho cảnh làng quê thanh bình yên ả và buồn man mác đến làm sao. Đó là thời điểm để tiếng đàn của anh lên tiếng.
là đồ rề mi rề đồ mi là/ sòn là. Mi la si đố si la đố mi/ sì mi. la đố rế mí/ rế đố rế la/ son la.
Đó là những nốt nhạc đầu tiên của ca khúc Lòng mẹ bất hủ của nhạc sỹ Y Vân. Anh hát say sưa, gửi gắm tình cảm ngập tràn vào từng lời hát. Những lúc như thế, chắc anh đang nhớ về người mẹ quá cố của mình. Lời hát như là lời thầm thì sâu thẳm nhất từ đáy lòng của đứa con tội nghiệp mà mẹ bỏ lại trên cõi đời này. Giai điệu bồng bềnh như con sóng Thái Bình Dương.Từ trạng thái trầm sâu lắng, câu nối tiếp dâng lên quãng cao vút, đến đoạn kể thì bình lặng êm êm, rồi cuối cùng quay trở về chủ âm La như lời thủ thỉ thương yêu đằm thắm biết bao nhiêu. Anh hát cho vơi đi nỗi nhớ mẹ, vơi đi nỗi cô đơn, và cũng muốn gửi lòng biết ơn của mình đối với người mẹ hiền yêu quý. Lũ chúng tôi ngồi há hốc mồm ra mà nghe, dán mắt vào những ngón tay cong queo tài tình của anh. Cứ mỗi cái móc ngón tay lên, cây đàn lại phát ra những âm thanh quyến rũ làm sao, có lúc nghe mà nổi da gà.
Những ngày sau đó, anh Hải cho chúng tôi cầm đàn và khảy những nốt đầu tiên. Đã hơn hai mươi năm xa quê rồi, vậy mà tôi vẫn còn nhớ như in cái cảm giác sung sướng khó tả ấy. Từ niềm đam mê đó, chẳng mấy chốc chúng tôi đã thuộc lòng bảy nốt nhạc và xướng được âm, biết được cấu trúc của cây đàn ghi ta mầu nhiệm, mà trước đó không lâu với tôi, nó là vật còn quá xa lạ và niềm mơ ước có một ngày được sở hữu nó.
Chúng tôi trở về với những ngày mưa nắng ruộng đồng, thiếu, áo thiếu cơm, thiếu sách vở, thiếu đủ thứ, nhưng niềm say mê học đàn thì luôn nung nấu, thôi thúc tôi. Thằng Châu, thằng Thiệu không quyết tâm học đàn bằng tôi. Bọn chúng tập được thời gian ngắn rồi bỏ hẳn.Tôi miệt mài luyện tập. Có những đêm tôi tập đánh đàn suốt đêm, trời sáng lúc nào không hay. Nói là học nghe bài bản, chứ thực tế tôi tự học là chính. Tự luyện tập, mua sách về tự học. Hồi đó quê tôi sách học đàn nghèo nàn lắm. Chỉ có mấy quyển hướng dẫn tự học Tây Ban Cầm của ông Nam Phong mà thôi.
Đời sống văn hoá tinh thần ở quê tôi đến những năm tám mươi cũng chưa có gì. Không có điện, không có ti vi, chỉ nghe được mỗi đài truyền thanh của huyện phát vào ba buổi sáng, trưa, chiều và tiếp âm của đài Quảng Nam-Đà Nẵng, đài Tiếng nói Việt Nam. Những đài này định kỳ có chương trình ca nhạc. Nhạc chủ yếu là những sáng tác trong kháng chiến, và những sáng tác ca ngợi chế độ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.Viết theo dòng âm nhạc giao hưởng, phần nhạc đệm chủ yếu là những nhạc cụ bác học như : dương cầm, vĩ cầm, đại hồ cầm ...
Thuở ấy chúng tôi mê sách lắm. Người lớn cho được đồng nào để dành rồi rủ nhau xuống nhà sách Điện Bàn mua sách về đọc.Không biết thế nào mà chúng tôi hồi đó mê sách đến vậy. Sách gì cũng đọc, miễn là có sách là đọc. Sách triết học và sách kinh tế chính trị học cha tôi mang về từ Hà Nội mấy va ly to, bí quá chúng tôi đem ra đọc nót. Những từ ngữ triết học trừu tượng khó hiểu, đọc hoài rồi cũng tự hiểu theo cảm nhận chủ quan. Chúng tôi đọc sách mà giống như trẻ để dành quà không dám ăn hết một lần, đọc sợ hết sách không có tiền mua thì buồn lắm. Tuổi trẻ bây giờ ít đọc sách quá. Cũng phải thôi, bây giờ cuộc sống tinh thần quá phong phú. Phim ảnh xem mệt nghỉ, rồi in tơ nét nữa, còn gì hứng thú đâu mà đọc sách, thời gian đâu mà đọc sách! Lúc đó nhà nào khá giả thì sắm được chiếc radio, thỉnh thoảng người lớn mới mở để nghe tin tức của đài phát thanh Quảng Nam Đà Nẵng, đài tiếng nói Việt Nam. Thỉnh thoảng thôi chứ mở nhiều không có tiền mua pin.
Lũ chúng tôi thường đến các nhà có đài để xin nghe lén các đài BBC, đài Hoa Kỳ, vì các đài này sau phần tin tức thường hay phát các bài hát trước năm 1975 ở miền Nam, thường gọi là nhạc vàng. Lúc đó nhà nước chưa mở cửa, chính quyền mà phát hiện ai nghe đài địch và hát nhạc vàng thì rất phiền toái, có khi bị mời đến cơ quan xã, huyện để “hỏi tội”. Đội chiếu bóng lưu động của huyện mỗi tháng vài lần về xã chiếu phim phục vụ đồng bào. Nguồn phim lúc đó phần lớn là phim của các nước xã hội chủ nghĩa. Chủ đề chính là phản ảnh về chiếc tranh vệ quốc chống phát xít thời năm bốn lăm. Lũ chúng tôi hồi đó thường gọi là “phim màu chiến đấu Liên Xô”.Thỉnh thoảng cũng được xem vài bộ phim thần thoại của Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc... Mùa mưa, đường sá lầy lội trơn như có mỡ. Mỗi khi nghe có chiếu phim dưới sân huyện, chúng tôi háo hức rủ nhau đi xem. Từ nhà tôi xuống đến sân huyện đến bảy cây số. Chúng tôi kéo nhau đi bộ hàng mấy tiếng đồng hồ. Nhiều lúc chúng tôi xuống đến nơi thì phim vừa hết, đành tiếc nuối quay về. Cũng có lúc nghe không rõ thế nào, chúng tôi xuống đến sân huyện mới biết là không có chiếu phim, đến nơi rồi mà vẫn không tin nên vô đến tận nơi, thấy không có chiếu phim mới chịu quay về. Có lúc xui xẻo, gặp bọn choai choai thị trấn gây sự đuổi đánh. Chúng tôi chỉ còn biết chạy thục mạng thoát thân. Về đến đầu làng, gọi nhau í ới, thấy còn đông đủ chúng tôi mừng vô kể.
Rồi ngày tháng trôi đi, Xuân về, Hè đến, Thu qua, Đông sang... Chúng tôi lớn lên, trở thành những chàng trai lúc nào không hay.
Lịch sử là như thế. Cái gì tồn tại cũng mang tính khách quan của nó.Cũng đúng thôi, đất nước mới hoà bình thì chiến tranh xảy ra phía Nam, phía Bắc. Dân còn đói khổ. Tất cả phải vươn vai, chung tay xây dựng lại cơ đồ và tiếp tục nối bước cha ông đánh giặc. Những ai lúc đó không chịu đựng được thiếu thốn khổ cực, hoặc vì lí do này nọ thì tìm đường vượt biên ra nước ngoài và buộc phải nói theo giọng điệu ngoại bang cũng là điều dễ hiểu.
Rồi đến một ngày, tôi từ giã làng quê đi lên thành phố. Như một câu chuyện cổ tích, tôi đã thành một nhân viên “ bàn giấy”. Vậy là lời tiên đoán và niềm mơ ước bấy lâu của mẹ tôi nay đã thành hiện thực. Cái thuở còn là buổỉ sáng đi làm đồng, buổi chiều đi học ấy, thấy tôi lam lũ, cực nhọc nhưng có ý chí, mẹ tôi bảo: “Đời mi sau này chắc thong thả, với dáng người như mi sẽ phù hợp với nhân viên bàn giấy”
Tôi bước chân xa nhà trong một buổi sáng cuối Xuân đầu Hạ năm 1983. Tôi nhớ mãi cái thời khắc đáng nhớ nhất đó. Khi đến đầu ngõ, tôi quay lai nhìn ngôi nhà thân yêu lần cuối trước lúc đi xa, không biết bao giờ mới trở lại. Nơi đây, tôi đã có một quãng đời thơ ấu với đầy ắp những kỷ niệm êm đềm xen lẫn những kỷ niệm đau thương và buồn tủi. Với tuổi mười chín,hành trang vào đời của tôi chỉ có một bộ áo quần học sinh ngày còn đi học. Tôi ra đi không người thân, không bạn bè, không người yêu đưa tiễn! Mấy đứa em của tôi với ánh mắt nhìn ngơ ngác, ẩn chứa một nỗi buồn, nhưng tôi biết trong lòng chúng len lõi một niềm vui mơ hồ nào đó, vì chúng nó hi vọng một điều gì đó sẽ tốt đẹp hơn đến với tôi trong những ngày sắp tới.
Rồi đây mấy đứa em tôi sẽ không bao giờ còn nhìn thấy tôi vào những đêm mùa đông gió bất lạnh giá, vát nơm ra đồng úp cá. Không còn thấy hình ảnh tôi bước xuống bờ ruộng là không còn thấy bóng người, chỉ còn nghe tiếng nơm úp xuống mặt ruộng nước phát ra những tiếng rột roạt vang trong đêm vắng, nghe đều đều buồn đến tái tê. Tiếng nơm úp cá nhỏ dần rồi tắt lịm, cũng là lúc tôi đã vượt qua được một cánh đồng rộng của thôn Nam, Bờ Chảo hay Minh Ma. Những đêm tối trời thì tôi úp được nhiều cá, những đêm trăng thanh thì lèo tèo vài con cá nhỏ. Loài cá nó cũng biết và đề phòng sự khôn ngoan của con người. Khi nó thấy bóng người qua ánh trăng là nó nhảy hỗn loạn hoặc chui xuống bùn giấu thân, dẫu có úp trúng, nó cũng không đánh nơm.Con người cũng phải chịu thua.
Rồi đây mấy đứa em tôi cũng không còn thấy tôi đi học về với bát cơm mẹ để phần “sắn lát cõng cơm” ăn chẳng thấm vào đâu so với thân thể của thằng con trai mười bảy tuổi. Những lúc đói quá, tôi phải ra vườn hái trái đậu tây non bỏ vô nồi đun sôi, khi đậu mềm, tôi nêm vài thìa mắm cái là có thêm một phần ăn để chống lại cái đói cồn cào hành hạ của những đêm mùa đông rét mướt.
Chiếc xe chở quân đưa chúng tôi xa dần thị trấn, xuôi quốc lộ 1 về hướng Đà Nẵng trong chiều tắt nắng. Quê hương xa mờ dần, chỉ còn nhìn thấy một màu xanh của cây lá rồi mất hút trong hoàng hôn.Tôi thấy có giọt nước gì rơi xuống tay tôi nóng nóng…Lòng tôi dâng lên nỗi buồn khó tả. Bạn bè mỗi đứa mỗi phương. Đứa theo đợt tuyển quân đầu năm về miền cao nguyên huấn luyện để truy quét Phun rô; đứa tham gia huấn luyện tại Hội An để chuẩn bị sang Cam Bốt. Thằng Thanh huấn luyện bộ đội thông tin 15W tại Tam Kỳ.Thằng Tiến trốn ngũ, ngược lên miền núi huyện Giằng khai thác gỗ thuê...
Và em, em đã có cuộc tình thứ hai của em. Với em, tôi chưa có cuộc tình nào cả. Đêm trước ngày đi, tim tôi lại bồi hồi lòng tôi xốn xang kiểng bước chân tôi tìm về xóm sông. Như một thử thách nghiệt ngã của thượng đế, em đã sánh vai cùng người mới, vui cười đi qua tôi không lời chào hỏi!. Giờ này, chắc em không còn nhớ đến tôi, nhớ đến Quang, một người bạn học mà tôi tin chắc rằng đã đi vào tình yêu đầu tiên trong hồn em. Em đã thất vọng về tôi vì tôi không nói được câu nói: Tôi yêu em. Thật đáng đời cho gã ngốc: Trần Quang (Tên tôi hồi còn đi học là Trần Quang)
Chỉ với vài tuổi quân thôi nhưng trường đời đã cho nhiều thứ, vượt ra ngoài những dự định trước đó của tôi. Dòng đời cuốn tôi đi, cay đắng, ngọt bùi tôi đều nếm đủ. Chẳng bao lâu tôi có dịp trở lại quê nhà. Bọn thanh niên thị trấn lúc này chẳng là cái quái gì với tôi nữa cả. Nhìn đầu tóc hớt cua, cộng với dáng dấp “cán bộ” của tôi, nhiều đứa tỏ ra thân thiện, có đứa còn ngưỡng mộ tôi cũng nên (?) Chắc lúc này, trong suy nghĩ của bọn họ, tôi không còn là thằng con trai quê mùa khốn khó như ngày nào. Mấy cô nàng ngày ấy, tôi chỉ biết nhìn theo mơ ước, giờ cũng mỉm cười với tôi.
Trong chốc lát, lòng tôi thấy xốn xang, hãnh diện. Bạn bè tôi cười nói râm ran xen lẫn trong tiếng đàn ghi ta bập bùng. Bỗng dưng lòng tôi chùng lại, trong tôi dâng lên một nỗi buồn không tên. Người xưa cảnh cũ vẫn còn đây, mắt tôi cứ dõi theo một nơi nào xa xăm lắm! Tôi ôm đàn ghi ta, vừa đệm vừa hát ca khúc Không tên số 3 của Vũ Thành An một cách tự tin và có khi tỏ ra điệu nghệ nữa chứ. Tôi hoà âm cũng tạm được do nhiều lần học lóm từ ông nhạc sĩ nghèo ở đường Lê Lợi. Mấy cô nàng ngồi nghe tôi đánh đàn, lòng bâng khuâng và mắt nhìn xa xăm trong ánh hoàng hôn tắt dần sau dãy Trường Sơn xa mờ.
Yêu nhau cho nhau nụ cười, thương nhau cho nhau cuộc đời, mà đời đâu biết đợi, để tình nhân kết đôi.. rồi kết thúc: mà đời dài như tiếng kinh cầu, còn sầu mang đến cho nhau.
Ôi điệu thứ buồn ray rứt quá, nỗi buồn của tình yêu không hạnh phúc... Tôi nghĩ, chắc là họ không còn coi thường tôi như dạo ấy. Tôi đã bắt gặp có vài ánh mắt nhìn tôi như khuyến khích, đồng cảm. Tôi nghe tiếng ai đó trong bọn họ hét lên: hát bài đó một lần nữa đi Quang!
Tôi sợ nhàm chán, nên không hát lại, mà hát bài Tình Nhớcủa Trịnh Công Sơn. Tôi bắt chước cách đệm cho Khánh Ly hát trong đĩa nhạc Sơn Ca 7 trước năm 1975. Bài hát cấu trúc nhịp ba bốn chậm buồn nghe ray rứt lắm.
Tình ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng. Người ngỡ đã xa xăm, bỗng về quá thênh thang. Ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều, như từng con nước rộng, xoá một ngày đìu hiu… đến đoạn điệp khúc thì tất cả mọi người đều đồng ca :
Khi cơn đau chưa dài, thì tình như chút nắng, khi cơn đau lên đầy, thì tình quá mênh mông. Một người về đỉnh cao. Một người về vực sâu, để cuộc tình chìm mau, như bóng chim cuối đèo…
Nót kết thúc là nót mi trong hợp âm mi thứ nghe thật buồn như kết thúc một cuộc tình, nhưng vẫn còn đọng lại biết bao kỷ niệm của tình yêu ngày nào còn nồng nàn trong ta, nhưng dày xé lòng ta. Ôi sao đúng tâm trạng tôi lúc đó quá. Tôi hát không hay nhưng bao nhiêu tâm trạng của kẻ đang mang nỗi đau tình phụ, tôi đã gửi hết vào bài hát, khiến tôi say trong một nỗi buồn chất ngất.
Cuộc hội ngộ không hẹn mà gặp ấy ít nhiều cũng làm cho tôi khó quên. Lúc đó, tôi không có ý khẳng định mình để khoe khoang, đắc thắng theo kiểu trẻ con như hình ảnh chú Dế Mèn của ông Tô Hoài. Mà có gì đâu để khoe khoang, đắc thắng nhĩ. Tôi trở về với một trời kỷ niệm của ngày xanh, với cái xóm nghèo Gò Gạch nằm gối đầu trên đồng ruộng bao la bốn mùa xanh tốt lúa khoai, nhưng không nuôi nổi nguời dân quê tôi.
Ra thành phố, tôi có điều kiện tiếp cận nhiều thông tin trên các mặt của đời sống, trong đó có âm nhạc. Tôi tìm hiểu nền tân nhạc Việt Nam qua các giai đoạn. Từ sự tò mò và có một chút đam mê, lâu ngày chầy tháng tôi cũng có thể nhận diện được những khuôn mặt của nền tân nhạc Việt Nam.
Những nhạc sĩ thời đầu tân nhạc như: Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương, Đặng Thế Phong,Văn Cao, Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước,Phạm Duy...
Lớp nhạc sĩ miền Bắc và miền Nam tập kết ra miền Bắc phục vụ hai cuộc kháng chiến như: Đỗ Nhuận, Huy Du, Trần Hoàn, Nguyễn Đức Toàn, Hoàng Vân, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Văn Tý, Trọng Loan, Trọng Bằng, Thái Cơ...
Lớp nhạc sĩ miền Nam đứng về phía nhân dân đấu tranh chống Mỹ và bè lũ tay sai trong phong trào học sinh sinh viên miền Nam, phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe, tiêu biểu là : Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh, Trần Xuân Tiến, Nguyễn Phú Yên, Nguyễn Văn Sanh, La Hữu Vang, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Nam... và đặc biệt là một hiện tượng của âm nhạc miền Nam trong giai đoạn này là Trịnh Công Sơn. Tôi sẽ dành riêng một chương trong hồi ký này để nói về người nhạc sĩ tài hoa này.
Khi nhắc đến những Ông lớn này, lòng tôi ngưỡng mộ họ vô cùng. Họ là những bông hoa rực rỡ nhất trong vườn hoa âm nhạc nước nhà. Nhiều lúc quá yêu mến họ, tôi nghĩ theo cảm tính của riêng tôi: Những giai điệu đẹp nhất, sâu lắng nhất, các Ông lớn đã phát hiện và khai thác hết rồi, để lại cho đời những tác phẩm bất hủ. Lớp đàn em, đàn cháu sau này không còn gì để tìm, để viết, rồi quẩn trí, sao chép, đạo nhạc, bắt chước phong cách Âu Mỹ và tự cho mình bắt kịp âm nhạc thời đại, cuối cùng viết những điều vớ vẩn, hát đâu quên đó, rồi tự khen nhau và tự phong nhau thành nhạc sĩ!.
Quay lại với nhạc Vũ Thành An, thật ra tôi cũng không mến mộ lắm. Trong gia tài âm nhạc của ông ấy, tôi thấy có một số bài có tên và 10 bài Không tên được soạn trước năm 1975 là có ấn tượng hơn cả. Tôi tiếc, Vũ Thành An nên dừng lại ở 10 bài không tên đã đi vào lòng người và như thế là đủ. Những bài không tên tiếp nối làm người nghe hình như hụt hẫng. Khi nhắc đến Đặng Thế Phong, chỉ cần nói đến hai tác phẩm đặc trưng là Giọt mưa thu và Con thuyền không bến đã làm nên tên tuổi của ông, sống mãi với thời gian.
Các bài không tên tiếp nối, rồi thánh ca, vịnh ca, nhân bản ca của Vũ Thành An…được soạn sau khi định cư tại Hoà Kỳ, theo tôi là thường thuờng. Chắc vì thế nên ít thấy có ca sĩ hải ngoại nào chọn trình bày các bài hát này. Một lần, tình cờ tôi nghe ông ta nói với “ Em” trong một đĩa nhạc nào đó, tôi lại càng thấy ông ta bình thường và có phần hơi sến. Là nhạc sĩ cùng thời với: Trịnh Công Sơn, Nguyễn Ánh 9, Lê Hựu Hà, Lê Uyên Phương, Ngô Thuỵ Miên…ông ta tuy có dấu ấn nhưng không thể sánh với các tên tuổi này được…
HÀ CHƯƠNG
không dám nói là khen nhưng giọng văn của anh ngọt ngào như nước giếng trong, đi vào sâu trong tim em, em đọc và hình dung ra tất cả những gì anh trải qua nơi tuổi thơ. Vậy là anh đã học và quyết tâm để trở thành anh ngày hôm nay.
Trả lờiXóaChân dung tự họa nhưng chân thực và dễ thương anh à.