VỊ THA
Đã biết em đang buồn
Lòng anh sầu lắm đấy
Em ơi em có thấy
Trong anh cùng mùa đông
Cuộc sống này vốn thế
Cũng chợt có chợt không
Mình hãy nén bão giông
Có người thân chia sẻ
Tâm hồn mình mạnh mẽ
Cao thượng và vị tha
Phúc cả ba họ ta
danh thơm lưu truyền mãi
ĐỦ LIỀU
Ái tình nếu uống đủ liều
Loài người sẽ thoát được điều tà dâm,
Ai ai cũng sống khỏa thân
Mặc quần sẽ lại khiêu dâm mọi người.
( Thơ Bảo Sinh ).
ƯỚC VỌNG
Trái tim đã ngục tù!
Trái tim mòn hanh hao
Trái tim vàng lá úa
Trái tim thu câm lặng
Trái tim cằn khô héo
Trái tim bừng khát khao
Mùa đâm trồi nẩy lộc
ru vào trong giấc mộng
Điệp khúc mãi tình xuân
ANH CHÀNG ĐÁNH CÁ VÀ CON CÁ VÀNG
Có một anh chàng đánh cá nghèo lắm, một hôm anh ta đánh gần hết ngày mới được một con cá, lại là cá vàng, bé tẹo. Hồi trước đọc truyện anh ta biết cá vàng hay lấy điều ước ra đổi, anh ta vội quát ầm lên:
- Cá vàng kia ! mau cho ta điều ước không ta cho vào kho!
Con cá rối rít:
- Vâng, đừng thịt tôi, tôi sẽ cho ông ước gì được đấy, nhưng ông phải chấp nhận ông ước được một thì hàng xóm nhà ông được gấp đôi.
- Không sao ta đang đói nghèo, ta đồng ý, cho ta phép ước đi.
Cá ưỡn cong mình:
- Ông có phép ước rồi đó, thả tôi ra đi!
Anh chàng đánh cá thả cá xong, hể hả quay về nhà. Bung đói anh ta ước:
- Có một mâm cỗ ! - Hàng xóm có 2 mâm.
- Có một biệt thự ! - Hàng xóm có 2 ngôi
- Có một vợ xinh ! - Hàng xóm có 2 vợ như hoa hậu
Tức thật ! Nó không làm gì mà cái gì cũng được gấp đôi mình - Anh đánh cá băn khoăn - Đã thế ông ước cho mày biết:
- Hãy cho tôi chột mắt !
Anh hàng xóm lập tức bị mù. Nhưng hai bà vợ vẫn chăm sóc chu đáo anh chồng giàu có, phong độ.
Thế này không được - Anh đánh cá thầm nhủ, tay sờ xuống dưới - Đã thế:
- Hãy làm tôi mất một ... hòn !
Tức thì bên nhà hàng xóm hai bà vợ khóc vật vã, vội vàng khăn áo bỏ chồng ra đi.
Thì ra anh hàng xóm đã bị thiến sạch !
Có một anh chàng đánh cá nghèo lắm, một hôm anh ta đánh gần hết ngày mới được một con cá, lại là cá vàng, bé tẹo. Hồi trước đọc truyện anh ta biết cá vàng hay lấy điều ước ra đổi, anh ta vội quát ầm lên:
- Cá vàng kia ! mau cho ta điều ước không ta cho vào kho!
Con cá rối rít:
- Vâng, đừng thịt tôi, tôi sẽ cho ông ước gì được đấy, nhưng ông phải chấp nhận ông ước được một thì hàng xóm nhà ông được gấp đôi.
- Không sao ta đang đói nghèo, ta đồng ý, cho ta phép ước đi.
Cá ưỡn cong mình:
- Ông có phép ước rồi đó, thả tôi ra đi!
Anh chàng đánh cá thả cá xong, hể hả quay về nhà. Bung đói anh ta ước:
- Có một mâm cỗ ! - Hàng xóm có 2 mâm.
- Có một biệt thự ! - Hàng xóm có 2 ngôi
- Có một vợ xinh ! - Hàng xóm có 2 vợ như hoa hậu
Tức thật ! Nó không làm gì mà cái gì cũng được gấp đôi mình - Anh đánh cá băn khoăn - Đã thế ông ước cho mày biết:
- Hãy cho tôi chột mắt !
Anh hàng xóm lập tức bị mù. Nhưng hai bà vợ vẫn chăm sóc chu đáo anh chồng giàu có, phong độ.
Thế này không được - Anh đánh cá thầm nhủ, tay sờ xuống dưới - Đã thế:
- Hãy làm tôi mất một ... hòn !
Tức thì bên nhà hàng xóm hai bà vợ khóc vật vã, vội vàng khăn áo bỏ chồng ra đi.
Thì ra anh hàng xóm đã bị thiến sạch !
![]() |
| NGUYÊN HƯNG |
- GIÁO DỤC
12 năm phổ thông, học sinh bây giờ, cứ cắm đầu mà học. Với các bậc phụ huynh, sự định hướng thường trực, là điểm cao trong từng bộ môn và lên lớp mỗi năm… Học khổ là vậy, nhưng đa số, cứ ra đời với dáng dấp lơ ngơ. Chỉ sau thời gian ngắn, mớ kiến thức nhồi nhét suốt 12 năm phổ thông rơi rụng hết như những thứ bụi đường. Cuộc sống tiếp theo, chỉ là loay hoay với bản năng tồn tại, với sự dẫn dắt của lương tri-chợt biến, chợt hiện-mù mờ mọi sự. Không hiểu gì về xã hội ngoài thành kiến về các quan hệ quyền thế; không hiểu gì về thế giới tâm hồn mình ngoài những ấm ức, sân si với những điều vụn vặt; không ý niệm gì về ý nghĩa của hiện sinh, chỉ ám ảnh trước những lợi ích trước mắt; tê liệt trước cái trừu tượng, cái siêu hình…, chỉ sa đà trong những cái cụ thể, phàm tục… V.v… và v.v…
- Cái ‘bản đồ tri thức’ mà người ta vẽ cho giáo dục phổ thông, chỉ nhắm đến mục tiêu là tạo ra những công cụ, những con ốc, con vít… trong cỗ máy xã hội. Học sinh tốt nghiệp phổ thông bây giờ, hầu như chẳng biết tí gì về xã hội học, về tâm lý học và cả luận lý học-những thứ kiến thức hết sức cần thiết để tạo ra những nhân tính-tư do có đầy đủ ý thức và khả năng tự chủ, tự lập.
- Ngay cái “bản đồ tri thức” về văn hóa, người ta cũng vẽ bằng cái nhãn quan ‘toàn trị” như vậy. Nó cũng chỉ nhắm đến mục tiêu “đổ khuôn” con người, khi giản qui văn hóa về “di sản”, về “truyền thống” và các ‘khuôn mẫu” (bịa đặt). Chính sự giản qui này, làm sống dậy, dung dưỡng cái tâm lý cục bộ địa phương cỗ lỗ sĩ; vừa đơn giản hóa vừa thần bí hóa tinh thần dân tộc (chủ nghĩa); cổ xúy cho tâm lý dị ứng với những điều mới lạ và tạo nên sự ngoan cố từ chối đối thoại, từ chối mọi sáng tạo thực sự…
- Cái “bản đồ tri thức” giáo dục và văn hóa như vậy, chủ yếu, căn cứ trên hệ hình “nhân cách luận” lởm khởm theo kiểu Việt Nam-nói là “cộng sản” nhưng thực chất mang màu sắc thần học và phong kiến… Với sự phát triển kinh tế thị trường, mức sống người dân chênh lệch ngày càng rõ và lối sống cũng thay đổi nhiều… Đây là một thách thức lớn. Cái quan điểm “mở cửa về kinh tế” nhưng “xây thành đắp luỹ về văn hóa”, lúc này, chỉ có tác dụng cản trở quá trình giải cơ cấu hệ hình “nhân cách luận” lởm khởm đang có và đẩy con người lún sâu hơn vào sự suy đồi. Nó có thể tạm thời giúp ổn định trật tự xã hội, nhưng là nguyên nhân của bao nhiêu băng hoại. Trong đó, nguy hại nhất là làm suy nhược dân khí.
- Các “bản đồ tri thức” như vậy, cần phải được vẽ lại với những hệ thức tư tưởng mới phù hợp hơn với xu hướng phát triển của thời đại. Và, cần phải được thực hiện trên tinh thần đối thoại tôn trọng các nguyên tắc duy lý và dân chủ. Rất tiếc, thực tế lại khác !
- Cái ‘bản đồ tri thức’ mà người ta vẽ cho giáo dục phổ thông, chỉ nhắm đến mục tiêu là tạo ra những công cụ, những con ốc, con vít… trong cỗ máy xã hội. Học sinh tốt nghiệp phổ thông bây giờ, hầu như chẳng biết tí gì về xã hội học, về tâm lý học và cả luận lý học-những thứ kiến thức hết sức cần thiết để tạo ra những nhân tính-tư do có đầy đủ ý thức và khả năng tự chủ, tự lập.
- Ngay cái “bản đồ tri thức” về văn hóa, người ta cũng vẽ bằng cái nhãn quan ‘toàn trị” như vậy. Nó cũng chỉ nhắm đến mục tiêu “đổ khuôn” con người, khi giản qui văn hóa về “di sản”, về “truyền thống” và các ‘khuôn mẫu” (bịa đặt). Chính sự giản qui này, làm sống dậy, dung dưỡng cái tâm lý cục bộ địa phương cỗ lỗ sĩ; vừa đơn giản hóa vừa thần bí hóa tinh thần dân tộc (chủ nghĩa); cổ xúy cho tâm lý dị ứng với những điều mới lạ và tạo nên sự ngoan cố từ chối đối thoại, từ chối mọi sáng tạo thực sự…
- Cái “bản đồ tri thức” giáo dục và văn hóa như vậy, chủ yếu, căn cứ trên hệ hình “nhân cách luận” lởm khởm theo kiểu Việt Nam-nói là “cộng sản” nhưng thực chất mang màu sắc thần học và phong kiến… Với sự phát triển kinh tế thị trường, mức sống người dân chênh lệch ngày càng rõ và lối sống cũng thay đổi nhiều… Đây là một thách thức lớn. Cái quan điểm “mở cửa về kinh tế” nhưng “xây thành đắp luỹ về văn hóa”, lúc này, chỉ có tác dụng cản trở quá trình giải cơ cấu hệ hình “nhân cách luận” lởm khởm đang có và đẩy con người lún sâu hơn vào sự suy đồi. Nó có thể tạm thời giúp ổn định trật tự xã hội, nhưng là nguyên nhân của bao nhiêu băng hoại. Trong đó, nguy hại nhất là làm suy nhược dân khí.
- Các “bản đồ tri thức” như vậy, cần phải được vẽ lại với những hệ thức tư tưởng mới phù hợp hơn với xu hướng phát triển của thời đại. Và, cần phải được thực hiện trên tinh thần đối thoại tôn trọng các nguyên tắc duy lý và dân chủ. Rất tiếc, thực tế lại khác !
NGUYÊN HƯNG
ĐỂ XEM TRANH CÓ CẦN PHẢI HỌC KHÔNG?
Trước tranh, mọi người, đa số giữ thái độ "kính nhi viễn chi". Thường, ít khi dám có ý kiến bình phẩm. Không chỉ với các loại tranh "bí hiểm" như Lập thể, Siêu thực, Trừu tượng.... mà ngay cả với những loại tranh "biểu hình" như Ấn tượng, Biểu tượng, Tượng trưng... thậm chí cả với tranh tả thực. Trong giới họa sĩ vẫn kháo nhau câu chuyện: có người nhận xét tranh bạn: "trông kinh đấy!", anh họa sĩ vặn lại "kinh là sao?". Có nghĩa là đẹp, hay xấu.... hay sao? Người kia giải thích bằng... cười!
Tại sao? Tại đa số thực sự "mù" trước tranh, chỉ thấy "lờ mờ" bên ngoài mà không thấy nổi "bên trong"? hay đơn giản chỉ vì không biết phương pháp diễn dịch không đủ chữ nghĩa để phát biểu?
Có người cho rằng chuyện "mù" là phổ biến với lý lẽ: học chữ phải bắt đầu từ A, B, C, muốn cảm thụ hội họa tốt phải được giáo dục về hội họa. Ở Việt Nam, cho đến nay, công việc này gần như chưa có gì...
Có người lại cho rằng, đối với nghệ thuật, cho dù có "thiên kinh vạn quyển" cũng chưa chắc đã hết "mù". Nhiều khi lại "mù" hơn nữa. Những điều mà người ta vẫn nói huyên thuyên về tác phẩm này, tác phẩm nọ, lắm lúc chỉ là những ảo tưởng do kiến thức mang lại hơn là do cảm thụ tự thân, chưa chắc đã có xúc cảm nghệ thuật...
Mâu thuẫn trên là có thật. Nhiều, rất nhiều người có học thức hẳn hoi, thuộc làu lịch sử mỹ thuật thế giới, nhớ tên tác phẩm tiêu biểu của từng họa sĩ, nhưng khi trực diện tác phẩm, nhiều khi chỉ biết im lặng, thậm chí dửng dưng. Ngược lại, có người học vấn chẳng là bao, nhưng trước vài ba tác phẩm đã có được những phát hiện tinh tế đến bất ngờ...
Thực tế đó, rõ ràng, buộc phải đặt lại câu hỏi, học để xem tranh là học những gì? và học như thế nào? Bất cứ ai thiết tha cầu học, và học thực sự, học trong ý thức thường xuyên tự phủ định (biết hoài nghi) có lẽ, dù sáng tỏ hoặc mơ hồ cảm nhận học để biết, học để hiểu và học, như sự tích tụ năng lượng cho sự sáng tạo là những cấp độ hoàn toàn khác nhau. Gần như hầu hết các nhà tâm lý nghệ thuật đều cho rằng cảm thụ nghệ thuật cũng là hình thái khác của sáng tạo nghệ thuật. Cái "vốn" của cảm thụ với sáng tạo như nhau. Khác, chỉ tùy vào khả năng có thể biểu đạt - nghệ thuật là hình thức - đây là chuyện "trời cho"...
Tại sao? Tại đa số thực sự "mù" trước tranh, chỉ thấy "lờ mờ" bên ngoài mà không thấy nổi "bên trong"? hay đơn giản chỉ vì không biết phương pháp diễn dịch không đủ chữ nghĩa để phát biểu?
Có người cho rằng chuyện "mù" là phổ biến với lý lẽ: học chữ phải bắt đầu từ A, B, C, muốn cảm thụ hội họa tốt phải được giáo dục về hội họa. Ở Việt Nam, cho đến nay, công việc này gần như chưa có gì...
Có người lại cho rằng, đối với nghệ thuật, cho dù có "thiên kinh vạn quyển" cũng chưa chắc đã hết "mù". Nhiều khi lại "mù" hơn nữa. Những điều mà người ta vẫn nói huyên thuyên về tác phẩm này, tác phẩm nọ, lắm lúc chỉ là những ảo tưởng do kiến thức mang lại hơn là do cảm thụ tự thân, chưa chắc đã có xúc cảm nghệ thuật...
Mâu thuẫn trên là có thật. Nhiều, rất nhiều người có học thức hẳn hoi, thuộc làu lịch sử mỹ thuật thế giới, nhớ tên tác phẩm tiêu biểu của từng họa sĩ, nhưng khi trực diện tác phẩm, nhiều khi chỉ biết im lặng, thậm chí dửng dưng. Ngược lại, có người học vấn chẳng là bao, nhưng trước vài ba tác phẩm đã có được những phát hiện tinh tế đến bất ngờ...
Thực tế đó, rõ ràng, buộc phải đặt lại câu hỏi, học để xem tranh là học những gì? và học như thế nào? Bất cứ ai thiết tha cầu học, và học thực sự, học trong ý thức thường xuyên tự phủ định (biết hoài nghi) có lẽ, dù sáng tỏ hoặc mơ hồ cảm nhận học để biết, học để hiểu và học, như sự tích tụ năng lượng cho sự sáng tạo là những cấp độ hoàn toàn khác nhau. Gần như hầu hết các nhà tâm lý nghệ thuật đều cho rằng cảm thụ nghệ thuật cũng là hình thái khác của sáng tạo nghệ thuật. Cái "vốn" của cảm thụ với sáng tạo như nhau. Khác, chỉ tùy vào khả năng có thể biểu đạt - nghệ thuật là hình thức - đây là chuyện "trời cho"...
Để xem tranh, người ta đã bị vô số định kiến che chắn, cản trở…
Ngay cả trước vấn đề này, “Để xem tranh có cần phải học?”, người ta cũng đã bị vô số định kiến che chắn, cản trở…
Thiếu hẳn sự tò mò trí thức, bảo thủ với các định kiến, người ta chỉ có thể tự giam hãm mình trong u mê…
Ngay cả trước vấn đề này, “Để xem tranh có cần phải học?”, người ta cũng đã bị vô số định kiến che chắn, cản trở…
Thiếu hẳn sự tò mò trí thức, bảo thủ với các định kiến, người ta chỉ có thể tự giam hãm mình trong u mê…
Có những cách đọc sách, khiến người ta càng đọc, càng trở nên ngu muội hơn. Cũng có những cách tiếp cận nghệ thuật, khiến con người ta, càng ngày, càng trở nên mê tín, ngớ ngẩn. Ở Việt Nam hiện tại, đây cũng là một vấn nạn cần được báo động...
Theo các nhà Ký hiệu học, thế giới nghệ thuật là thế giới của những VĂN BẢN
Để hiểu nghệ thuật, đánh giá hiệu quả nghệ thuật, trước hết và cơ bản hơn hết, là phải GIẢI MÃ văn bản
Giải mã văn bản nghệ thuật, là xác định cái nội hàm văn hóa và thẩm mỹ nằm trong sự tương tác của HỆ THỐNG KÝ HIỆU làm nên văn bản nghệ thuật đó.
Hệ thống ký hiệu nghệ thuật, trong hội họa, cùng cấu tạo bởi đường nét, màu sắc, mảng khối, chất liệu và ánh sáng…, được chia thành 3 loại:
1. HÌNH HIỆU (ICON): là những hình ảnh đồng dạng với hình ảnh đối tượng được thấy bởi đôi mắt nhìn ra, chịu sự chi phối của các qui luật vật lý nơi con ngươi. Một hình hiệu, có thể được ghi nhận bởi ống kính máy ảnh hay do họa sĩ vẽ, nhưng ý nghĩa của nó (tác động lên nhận thức, tình cảm của người tiếp nhận, hay xuất phát từ ý thức chủ định nơi người sáng tác) bao giờ cũng có quan hệ mật thiết với đối tượng trong thế giới hiện thực. (Không thể vẽ trẻ nói già, vẽ gà nói vịt v.v…)
2. CHỈ HIỆU (INDEX): là những hình ảnh (được chụp hay vẽ) gắn liền với kinh nghiệm thị giác của con người về những mối quan hệ nhân quả nào đó. Có kinh nghiệm từ cuộc sống: thấy khói biết có lửa, thấy dấu chân biết có người đi qua, thấy cánh buồm bé tí chấp chới dưới con song to biết đó là sự hiểm nguy v.v… Có kinh nghiệm từ nghệ thuật: một đường nét, tách riêng, tự nó không phản ánh được gì hết, nhưng trạng thái của nó-liên tục hay đứt đoạn, đồng đều hay không đồng đều v.v… bao giờ cũng có một nội dung biểu hiện xác định. Nhìn một đường nét, người có kinh nghiệm nghệ thuật dễ dàng nhận biết đó là nét vẽ vu vơ của trẻ con, hay chút ngẫu hứng của một họa sĩ bậc thầy… Một HÌNH HIỆU trong tranh của người khác, cũng có thể trở thành CHỈ HIỆU trong tranh của người này (Trường hợp Mona Lisa chẳng hạn, đã được rất nhiều họa sĩ sau này dùng lại cho mục đích nghệ thuật của mình...)
3. PHÙ HIỆU (SYMBOL): là những hình ảnh ước định, chấp định và mang tính áp đặt hay võ đoán được hình thành từ trong các mối quan hệ xã hội, hoặc được trừu xuất từ quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Vòng hào quang quanh đầu các vị thánh trong tranh tôn giáo… là một loại phù hiệu; nhãn lon coca cola trong tranh POP Mỹ đầu thế kỷ 20 cũng là một loại phù hiệu; hình ảnh những con người nhễu nhão như cao su là một kiểu phù hiệu hóa một nhận thức về con người của Dali; hình ảnh những con người vỡ vụn như gạch như đá… là một kiểu phù hiệu hóa khác một nhận thức khác về con người của Picasso v.v…
Điểm “cách mạng” của lối tiếp cận KÝ HIỆU HỌC này là đã tách rời tranh ra khỏi các quan hệ độc đoán với thế giới hiện thực. Vẽ, không phải là mô phỏng, là tái tạo hiện thực. Vẽ, là một diễn ngôn (discourse). Đối tượng của hội họa là bản thân sự diễn ngôn, là bản thân tác phẩm. Và, trên tác phẩm, tất cả đều là ký hiệu. Mỗi ký hiệu không nhất thiết phải gắn kết với một đối tượng, một chất liệu-sống trong thế giới hiện thực. Mà là, sản phẩm của sự ước đoán, của kinh nghiệm. Bản thân ký hiệu không mang giá trị. Nó chỉ tạo thành giá trị trong sự tương tác với các ký hiệu khác trong một hình thức tinh lọc mang nội dung nào đó...
Hình thức tinh lọc này là gì, không phải là một vấn đề kỷ thuật. Mà là một vấn đề mỹ học. Nó không đơn giản chỉ là tương quan giữa hình và màu với thể chất vật liệu tuân theo một cái gọi là “qui luật thị giác” nào đó. “Qui luật thị giác” này, thực ra, chỉ là một ảo tưởng. Mắt nhìn con người không chỉ là mắt nhìn-vật lý, mà còn là một mắt nhìn-nhân sinh. Và, con mắt-nhân sinh (căn để của cái nhìn nghệ thuật) nào, cũng là sản phẩm của một nền văn hóa, của một lịch sử nhất định. Tất cả những điều mọi người vẫn nói về một “qui luật thị giác” nào đó, thực chất chỉ là những qui ước dựa trên kinh nghiệm thị giác của một truyền thống hội họa nào đó mà thôi. Thực tế là như vậy. Tất cả chúng ta đều biết, ngay trong hội họa phương Tây, có bao nhiêu khuynh hướng, bao nhiêu trường phái, thì cũng có bấy nhiêu tiêu chuẩn-mang tính kỹ thuật-cho cái gọi là hình thức tinh lọc này. Nếu mở rộng góc nhìn ra các truyền thống hội họa khác-Trung Hoa, Nhật Bản chẳng hạn-thì quả thực, mọi ý định đi tìm một tiêu chuẩn chung về hình thức tinh lọc trong hội họa là điều vô vọng.
(Nguyên Hưng-trích từ chuyên luận "Tiếp cận hội họa từ góc độ Ký hiệu học nghệ thuật"-chuẩn bị xuất bản)
XIN GHI CHÚ: CÁCH TIẾP CẬN NÀY, Ở TÂY PHƯƠNG, ĐÃ LÀ CHUYỆN CŨ, ĐÃ ĐƯỢC ĐƯA XUỐNG DẠY Ở CẤP PHỔ THÔNG TRUNG HỌC. CÒN Ở TA, OÁI OĂM VỚI CẢ GIỚI CHUYÊN GIA TRONG LĨNH VỰC MỸ THUẬT, CÓ LẼ VẪN LÀ CÁI GÌ HẾT SỨC MỚI MẺ... BỞI VẬY MÀ CHO ĐẾN NAY, VẪN CÓ VÔ SỐ NGƯỜI CỨ LẢM NHẢM: "VỚI TRANH THÌ CHỈ CÓ THỂ CẢM NHẬN, CHỨ KHÔNG THỂ DIỄN DỊCH, PHÊ BÌNH...!!!
Để hiểu nghệ thuật, đánh giá hiệu quả nghệ thuật, trước hết và cơ bản hơn hết, là phải GIẢI MÃ văn bản
Giải mã văn bản nghệ thuật, là xác định cái nội hàm văn hóa và thẩm mỹ nằm trong sự tương tác của HỆ THỐNG KÝ HIỆU làm nên văn bản nghệ thuật đó.
Hệ thống ký hiệu nghệ thuật, trong hội họa, cùng cấu tạo bởi đường nét, màu sắc, mảng khối, chất liệu và ánh sáng…, được chia thành 3 loại:
1. HÌNH HIỆU (ICON): là những hình ảnh đồng dạng với hình ảnh đối tượng được thấy bởi đôi mắt nhìn ra, chịu sự chi phối của các qui luật vật lý nơi con ngươi. Một hình hiệu, có thể được ghi nhận bởi ống kính máy ảnh hay do họa sĩ vẽ, nhưng ý nghĩa của nó (tác động lên nhận thức, tình cảm của người tiếp nhận, hay xuất phát từ ý thức chủ định nơi người sáng tác) bao giờ cũng có quan hệ mật thiết với đối tượng trong thế giới hiện thực. (Không thể vẽ trẻ nói già, vẽ gà nói vịt v.v…)
2. CHỈ HIỆU (INDEX): là những hình ảnh (được chụp hay vẽ) gắn liền với kinh nghiệm thị giác của con người về những mối quan hệ nhân quả nào đó. Có kinh nghiệm từ cuộc sống: thấy khói biết có lửa, thấy dấu chân biết có người đi qua, thấy cánh buồm bé tí chấp chới dưới con song to biết đó là sự hiểm nguy v.v… Có kinh nghiệm từ nghệ thuật: một đường nét, tách riêng, tự nó không phản ánh được gì hết, nhưng trạng thái của nó-liên tục hay đứt đoạn, đồng đều hay không đồng đều v.v… bao giờ cũng có một nội dung biểu hiện xác định. Nhìn một đường nét, người có kinh nghiệm nghệ thuật dễ dàng nhận biết đó là nét vẽ vu vơ của trẻ con, hay chút ngẫu hứng của một họa sĩ bậc thầy… Một HÌNH HIỆU trong tranh của người khác, cũng có thể trở thành CHỈ HIỆU trong tranh của người này (Trường hợp Mona Lisa chẳng hạn, đã được rất nhiều họa sĩ sau này dùng lại cho mục đích nghệ thuật của mình...)
3. PHÙ HIỆU (SYMBOL): là những hình ảnh ước định, chấp định và mang tính áp đặt hay võ đoán được hình thành từ trong các mối quan hệ xã hội, hoặc được trừu xuất từ quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Vòng hào quang quanh đầu các vị thánh trong tranh tôn giáo… là một loại phù hiệu; nhãn lon coca cola trong tranh POP Mỹ đầu thế kỷ 20 cũng là một loại phù hiệu; hình ảnh những con người nhễu nhão như cao su là một kiểu phù hiệu hóa một nhận thức về con người của Dali; hình ảnh những con người vỡ vụn như gạch như đá… là một kiểu phù hiệu hóa khác một nhận thức khác về con người của Picasso v.v…
Điểm “cách mạng” của lối tiếp cận KÝ HIỆU HỌC này là đã tách rời tranh ra khỏi các quan hệ độc đoán với thế giới hiện thực. Vẽ, không phải là mô phỏng, là tái tạo hiện thực. Vẽ, là một diễn ngôn (discourse). Đối tượng của hội họa là bản thân sự diễn ngôn, là bản thân tác phẩm. Và, trên tác phẩm, tất cả đều là ký hiệu. Mỗi ký hiệu không nhất thiết phải gắn kết với một đối tượng, một chất liệu-sống trong thế giới hiện thực. Mà là, sản phẩm của sự ước đoán, của kinh nghiệm. Bản thân ký hiệu không mang giá trị. Nó chỉ tạo thành giá trị trong sự tương tác với các ký hiệu khác trong một hình thức tinh lọc mang nội dung nào đó...
Hình thức tinh lọc này là gì, không phải là một vấn đề kỷ thuật. Mà là một vấn đề mỹ học. Nó không đơn giản chỉ là tương quan giữa hình và màu với thể chất vật liệu tuân theo một cái gọi là “qui luật thị giác” nào đó. “Qui luật thị giác” này, thực ra, chỉ là một ảo tưởng. Mắt nhìn con người không chỉ là mắt nhìn-vật lý, mà còn là một mắt nhìn-nhân sinh. Và, con mắt-nhân sinh (căn để của cái nhìn nghệ thuật) nào, cũng là sản phẩm của một nền văn hóa, của một lịch sử nhất định. Tất cả những điều mọi người vẫn nói về một “qui luật thị giác” nào đó, thực chất chỉ là những qui ước dựa trên kinh nghiệm thị giác của một truyền thống hội họa nào đó mà thôi. Thực tế là như vậy. Tất cả chúng ta đều biết, ngay trong hội họa phương Tây, có bao nhiêu khuynh hướng, bao nhiêu trường phái, thì cũng có bấy nhiêu tiêu chuẩn-mang tính kỹ thuật-cho cái gọi là hình thức tinh lọc này. Nếu mở rộng góc nhìn ra các truyền thống hội họa khác-Trung Hoa, Nhật Bản chẳng hạn-thì quả thực, mọi ý định đi tìm một tiêu chuẩn chung về hình thức tinh lọc trong hội họa là điều vô vọng.
(Nguyên Hưng-trích từ chuyên luận "Tiếp cận hội họa từ góc độ Ký hiệu học nghệ thuật"-chuẩn bị xuất bản)
XIN GHI CHÚ: CÁCH TIẾP CẬN NÀY, Ở TÂY PHƯƠNG, ĐÃ LÀ CHUYỆN CŨ, ĐÃ ĐƯỢC ĐƯA XUỐNG DẠY Ở CẤP PHỔ THÔNG TRUNG HỌC. CÒN Ở TA, OÁI OĂM VỚI CẢ GIỚI CHUYÊN GIA TRONG LĨNH VỰC MỸ THUẬT, CÓ LẼ VẪN LÀ CÁI GÌ HẾT SỨC MỚI MẺ... BỞI VẬY MÀ CHO ĐẾN NAY, VẪN CÓ VÔ SỐ NGƯỜI CỨ LẢM NHẢM: "VỚI TRANH THÌ CHỈ CÓ THỂ CẢM NHẬN, CHỨ KHÔNG THỂ DIỄN DỊCH, PHÊ BÌNH...!!!
Mỹ thuật, hiểu theo nghĩa “truyền thống”-hội họa, điêu khắc, đồ họa…-còn kéo dài ở Việt Nam, thực chất, chưa bao giờ là nghệ thuật của số đông. Do tính chất độc bản, không chấp nhận bất cứ hình thức “đại diện” nào (Mọi hình thức phiên bản, đều là một sự sáng tạo lại. Không phải là nó), “công chúng” của một tác phẩm mỹ thuật, lúc nào, ở đâu cũng hết sức lèo tèo. Sự hiểu biết của số đông về nó, thực tế, chỉ là ảo tưởng...
Không phải ngẫu nhiên mà không ít họa sĩ trên thế giới ngày nay, đã có phản ứng gay gắt với cách hiểu “truyền thống” đó. Họ cho đó là một thứ nghệ thuật “trưởng giả” và “lừa mị”. Và từ đó, đi tìm những hình thức mới, tiếp xúc trực tiếp với công chúng, dẫn vào nghệ thuật đại chúng, nghệ thuật đường phố, nghệ thuật công cộng, nghệ thuật khái niệm và hành vi v.v…
Đã vậy, quan tâm đến vấn đề công chúng, đặt vấn đề phục vụ công chúng, không thể không quan tâm đến các hình thức nghệ thuật mới-vừa nói-đang ảnh hưởng không ít đến khá đông họa sĩ trẻ Việt Nam hiện tại, và, không thể không quan tâm đến việc phát triển các thiết chế dân chủ cho sự tiếp cận nghệ thuật.
Quan tâm đến vấn đề thứ nhất, không thể bỏ qua việc trang bị một nền tảng tri thức vững vàng, một môi trường giao tiếp thuận lợi và một không gian đối thọai dân chủ cho các nghệ sĩ.
Quan tâm đến vấn đề thứ hai, không thể bỏ qua việc phát triển và đổi mới cung cách họat động của hệ thống bảo tàng, mở cửa các bộ sưu tập, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trưng bày, triển lãm. Việc giáo dục, đào tạo… không thể tách rời quan hệ với các bảo tàng, các bộ sưu tập và thực tiễn sáng tác, triển lãm của các nghệ sĩ…
Không phải ngẫu nhiên mà không ít họa sĩ trên thế giới ngày nay, đã có phản ứng gay gắt với cách hiểu “truyền thống” đó. Họ cho đó là một thứ nghệ thuật “trưởng giả” và “lừa mị”. Và từ đó, đi tìm những hình thức mới, tiếp xúc trực tiếp với công chúng, dẫn vào nghệ thuật đại chúng, nghệ thuật đường phố, nghệ thuật công cộng, nghệ thuật khái niệm và hành vi v.v…
Đã vậy, quan tâm đến vấn đề công chúng, đặt vấn đề phục vụ công chúng, không thể không quan tâm đến các hình thức nghệ thuật mới-vừa nói-đang ảnh hưởng không ít đến khá đông họa sĩ trẻ Việt Nam hiện tại, và, không thể không quan tâm đến việc phát triển các thiết chế dân chủ cho sự tiếp cận nghệ thuật.
Quan tâm đến vấn đề thứ nhất, không thể bỏ qua việc trang bị một nền tảng tri thức vững vàng, một môi trường giao tiếp thuận lợi và một không gian đối thọai dân chủ cho các nghệ sĩ.
Quan tâm đến vấn đề thứ hai, không thể bỏ qua việc phát triển và đổi mới cung cách họat động của hệ thống bảo tàng, mở cửa các bộ sưu tập, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trưng bày, triển lãm. Việc giáo dục, đào tạo… không thể tách rời quan hệ với các bảo tàng, các bộ sưu tập và thực tiễn sáng tác, triển lãm của các nghệ sĩ…
Nói về tranh, trước hết, là nói về những gì hiện diện trên mặt tranh. Mọi diễn giải về nghệ thuật, nếu không muốn rơi vào võ đoán hay suy diễn hàm hồ, thì phải bắt đầu bằng sự thức tỉnh giác quan trước sự liên hệ của bao nhiêu yếu tố cụ thể làm nên bề mặt bức tranh (thay cho cách gọi là hình thức)
Những yếu tố cụ thể làm nên bề mặt bức tranh đó, có lẽ, ai cũng đã biết. Đó là đường nét, là mầu sắc, là mảng khối, là chất liệu, là ánh sáng v.v…. SỰ TỔ HỢP của các yếu tố này, THEO MỘT CÁCH NÀO ĐÓ, tạo nên hình thức của bức tranh. Và gắn liền với hình thức, là những HIỆU ỨNG VỀ GIÁ TRỊ, mà ở đây, chúng ta gọi là hiệu quả trên mặt tranh.
Không thể nói về giá trị hay hiệu quả trên mặt tranh, nếu không bắt đầu bằng cảm nhận và phân tích sự tổ hợp của các yếu tố hội họa theo một cách nào đó nói trên.
Những cách nào đó này hết sức đa dạng. Lịch sử hội họa, có thể nói, là lịch sử của những cách tổ hợp như vậy-cái, nói bằng ngôn ngữ lý thuyết, luôn luôn gắn liền với cách nhìn, cách nghĩ về nghệ thuật, với phương pháp sáng tác, với phong cách cá nhân và thời đại nơi mỗi người nghệ sĩ.
Bàn về hiệu quả trên mặt tranh, do đó, là phải bàn trên cơ sở nắm bắt những qui phạm, điển phạm, những nguyên lý mỹ học và phương pháp sáng tác… khác nhau của những khuynh hướng, trường phái và phong cách hội họa khác nhau này.
Không có tiêu chuẩn chung cho cái gọi là hiệu quả trên mặt tranh. Mỗi khuynh hướng, mỗi trường phái, mỗi phong cách… đều có những tiêu chuẩn diễn giải và định giá riêng.
NHỮNG ĐIỀU SƠ ĐẲNG NÀY, TÔI NGỜ RẰNG, ĐÃ KHÔNG ĐƯỢC DẠY Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT Ở VIỆT NAM...!!!
Những yếu tố cụ thể làm nên bề mặt bức tranh đó, có lẽ, ai cũng đã biết. Đó là đường nét, là mầu sắc, là mảng khối, là chất liệu, là ánh sáng v.v…. SỰ TỔ HỢP của các yếu tố này, THEO MỘT CÁCH NÀO ĐÓ, tạo nên hình thức của bức tranh. Và gắn liền với hình thức, là những HIỆU ỨNG VỀ GIÁ TRỊ, mà ở đây, chúng ta gọi là hiệu quả trên mặt tranh.
Không thể nói về giá trị hay hiệu quả trên mặt tranh, nếu không bắt đầu bằng cảm nhận và phân tích sự tổ hợp của các yếu tố hội họa theo một cách nào đó nói trên.
Những cách nào đó này hết sức đa dạng. Lịch sử hội họa, có thể nói, là lịch sử của những cách tổ hợp như vậy-cái, nói bằng ngôn ngữ lý thuyết, luôn luôn gắn liền với cách nhìn, cách nghĩ về nghệ thuật, với phương pháp sáng tác, với phong cách cá nhân và thời đại nơi mỗi người nghệ sĩ.
Bàn về hiệu quả trên mặt tranh, do đó, là phải bàn trên cơ sở nắm bắt những qui phạm, điển phạm, những nguyên lý mỹ học và phương pháp sáng tác… khác nhau của những khuynh hướng, trường phái và phong cách hội họa khác nhau này.
Không có tiêu chuẩn chung cho cái gọi là hiệu quả trên mặt tranh. Mỗi khuynh hướng, mỗi trường phái, mỗi phong cách… đều có những tiêu chuẩn diễn giải và định giá riêng.
NHỮNG ĐIỀU SƠ ĐẲNG NÀY, TÔI NGỜ RẰNG, ĐÃ KHÔNG ĐƯỢC DẠY Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT Ở VIỆT NAM...!!!
Nhìn lại thành tựu rực rỡ của mỹ thuật Việt Nam thời Đông Dương (1925-1954), nhiều người cho rằng đó là một “giai đoạn may mắn với sự nở rộ đột xuất của các tài năng nghệ thuật…”. Bất cứ ai có chút hiểu biết về lịch sử và văn hoá Việt Nam hiện đại đều có thể thấy ngay, không có “đột xuất”, không có bất ngờ hay ngẫu nhiên gì cả. Đó là chiến thắng của một hệ hình văn hoá, mà thành tựu mỹ thuật chỉ là một thành phần. Cứ nhìn rộng ra cả các lãnh vực khác như văn học, âm nhạc, sân khấu... ở đầu thế kỷ 20, có thể thấy ngay, đó là giai đoạn chín muồi của nền văn hoá Tây học ở Việt Nam với sự ăn sâu của chủ nghĩa nhân bản (humanism) và chủ nghĩa thực chứng (positivism) mà sản phẩm là sự lên ngôi cùng khắp của ý thức về cá nhân và tinh thần phê phán-lãng mạn chủ nghĩa. Chính sự lên ngôi cùng khắp của ý thức về cá nhân và tinh thần phê phán-lãng mạn chủ nghĩa đã kích hoạt không chỉ cho sự vận động mang tính đáp ứng nơi giới sáng tác-như đã biết-mà còn cho sự hình thành cả một cộng đồng diễn dịch có khả năng tiêu thụ và thẩm định nghệ thuật. Tất cả chộn rộn trong “tinh thần cách mạng” nâng đỡ và thúc đẩy lẫn nhau...
"Ý niệm về phẩm chất chính là ý niệm về cái đẹp, và rốt cuộc, ý niệm về cái đẹp mang ý chí sống còn. Không có nó, chúng ta tiêu tùng." (Nhà thơ, nhà phê bình mỹ thuật Anh quốc, Sir Herbert Read)
Đây là 3 "Thánh Tượng" (Icon) nổi tiếng nhất của họa sĩ người Nga Andrei Rublev (1360-1430), cũng là 3 "Thánh Tượng" nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật Chính Thống Giáo Nga. Để hiểu hết giá trị của các tác phẩm này, người xem, không những cần phải "thuộc" Kinh Thánh (Cưu Ước và Tân Ước), mà còn, phải có kiến thức vững chắc về "Biểu tượng học" (Iconography), một môn học, ra đời ở Ý khoảng giữa thế kỷ 15, chuyên nghiên cứu, giải mã ý nghĩa tranh, tượng "Thánh", tiền thân của bộ môn "Hình ảnh học" (Imagology), và cũng là một trong những nền tảng của lý thuyết Ký hiệu học (Semiotics) mới ra đời giữa thế kỷ 20...
Với giới Mỹ thuật Việt Nam, oái oăm, cho đến nay, cả "Hình ảnh học" (Imagology) lẫn Ký hiệu học (Semiotics), xem ra, đều còn là những "món" quá lạ lẫm...
Bởi vậy, không lạ gì...!!!
"Ý niệm về phẩm chất chính là ý niệm về cái đẹp, và rốt cuộc, ý niệm về cái đẹp mang ý chí sống còn. Không có nó, chúng ta tiêu tùng." (Nhà thơ, nhà phê bình mỹ thuật Anh quốc, Sir Herbert Read)
Đây là 3 "Thánh Tượng" (Icon) nổi tiếng nhất của họa sĩ người Nga Andrei Rublev (1360-1430), cũng là 3 "Thánh Tượng" nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật Chính Thống Giáo Nga. Để hiểu hết giá trị của các tác phẩm này, người xem, không những cần phải "thuộc" Kinh Thánh (Cưu Ước và Tân Ước), mà còn, phải có kiến thức vững chắc về "Biểu tượng học" (Iconography), một môn học, ra đời ở Ý khoảng giữa thế kỷ 15, chuyên nghiên cứu, giải mã ý nghĩa tranh, tượng "Thánh", tiền thân của bộ môn "Hình ảnh học" (Imagology), và cũng là một trong những nền tảng của lý thuyết Ký hiệu học (Semiotics) mới ra đời giữa thế kỷ 20...
Với giới Mỹ thuật Việt Nam, oái oăm, cho đến nay, cả "Hình ảnh học" (Imagology) lẫn Ký hiệu học (Semiotics), xem ra, đều còn là những "món" quá lạ lẫm...
Bởi vậy, không lạ gì...!!!






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét