Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

TIẾN SĨ VÕ VĨNH KHUYẾN - ĐỨC LẠNG HÀ TĨNH

Thư ngỏ:

19 tháng 6 2013 lúc 18:40
                                                                           Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06  tháng  05  năm 2013
Thư  ngỏ:
                  Gửi các bạn nhỏ Đức Lạng đang theo học tại Trường Trung học phổ thông
                                                                   Đức Thọ,  Hà Tĩnh
                           ( Võ Vĩnh Khuyến – học sinh Đức Lạng khóa đầu tiên của trường)
                                                                 --------------------------------
Lịch sử có sự giao thoa, hòa hợp và cộng hưởng giữa quá khứ, hiện tại, tương lai và lịch sử như một dòng sông với mạch nguồn, tuôn trào dào dạt có sự tiếp nối kế thừa giữa các tầng phù sa văn hóa. Phương Tây có câu ngạn ngữ: “ Không ai hai lần tắm trên một dòng sông”, xin trở về với bến sông xưa mà gần nửa thế kỷ một lần tôi từng tắm, xin được gọi các “anh, ông, bà” nửa thế kỷ trước tôi từng gọi (dù người gọi bằng “anh” trong bài viết, xin mượn nguyên câu chữ của uy viễn tướng công- nhà thơ xứ Nghệ Nguyễn Công Trứ: “ Ngũ thập niên tiền, nhị thập tam” ( 50 năm trước, anh 23 tuổi). Một lần nữa cúi đầu, cầu xin được lượng thứ.  
     Hà tĩnh vùng đất “địa linh” tất sinh “ nhân kiệt”. Đức Thọ cũng là miền đất “ địa linh” nên sinh nhiều “ nhân kiệt”. Nhưng Đức lạng (3) quê mình xin đừng ai ngộ nhận là đất “địa linh” mà tự ru mình cũng là “nhân kiệt”. Phải chăng vì phong thủy quê mình: từng có một con sông ( nhưng chỉ  là sông trong mùa lũ) theo sự biến dịch của thời gian, hoàn cảnh trở thành “ sông lấp” (Tú Xương). Ngay cả khi là sông cũng không có dáng rồng hay dáng phượng, đồi núi tuy nhiều nhưng không có thế hổ chầu long phục hay lân, ly qui tụ khấu đầu. Nếu quê ta xây văn chỉ thì khiêm tốn, nhưng dựng võ miếu chắc chắn khang trang, đàng hoàng, hoành tráng và rất nguy nga.
    Đức Lạng quê ta có rất, rất nhiều cả hai cha con đều hàm đại tá mà lương thì lương tướng ( Ông Nga, anh Nhân Phó chánh văn phòng Bộ Quốc phòng), hai cha con đều là sĩ quan trung cao cấp ( ông Tính, anh Chương), cha là liệt sĩ, con là đại tá trưởng khoa ( anh Trang ) hay cả nhà đều là sĩ quan cao cấp, tập trung các quân binh chủng: ( ông Thơn, anh Thoan, anh Vận). Hai thế hệ đều là đại tá, thượng tá mà người cha đã đạt kết quả cao ở học viện quân sự nổi tiếng trên thế giới tại Liên Xô (cũ) đó là (ông Luân, anh Vị). Có những vị đại tá khi tôi sinh ra( tôi năm nay 62 tuổi) họ đã cầm sung ( đại tá Hợi, đại tá Thụ). Nhiều nhà cả 3 anh em ruột cùng mặc áo lính ( Trần Hợi, Trần Tuấn (liệt sỹ), Trần Anh), ba người nhà ông Soạn ( anh Minh, anh Giám và lão Diên), rất nhiều gia đình có 2 anh em ruột đều là liệt sỹ. Chỉ một chi tộc nhỏ ở xóm Trùng Hưng(1) anh em liệt sỹ: Võ Trọng Soạn hoặc Võ Văn Đường, ngay gia đình nhỏ của tôi : Bố tôi (Võ Trợ) lính thông tin trong kháng chiến chống Pháp, tôi lái xe tăng ở E206-Thiết giáp, chú tôi Võ Dụ ở chiến trường Lào, con là liệt sỹ Võ văn Thuyết ở Quảng Trị, cũng ở Quảng Trị chú út : Võ Giảng tham chiến trên dưới 10 năm có con thượng úy Võ Vĩnh Đạo, thượng tá: Võ Vĩnh Tuấn. Rồi cả nhà ba người con ông Nghiêm: liệt sỹ Diệm, anh Huyến lăn lóc chục năm trời trên tuyến lửa Trường Sơn ( anh là lái xe vận tải) đến lão(2) Xanh vào Đại học bách khoa còn nhập ngũ… Đức Lạng ta còn rất nhiều, rất nhiều gia đình như thế…
     Nhiều khi tôi vẫn nghĩ: nếu như đem số “giấy chứng nhận Huân, Huy chương” “ Bảng gia đình vẻ vang” “ Bằng Tổ quốc ghi công” “ Giấy chứng nhận dũng sỹ” của các gia đình trong xã có thể phủ kín cả sân vận động Đức Lạng. Nếu như tập trung công dân toàn xã sinh từ 1960 trở về trước, ước không dưới 70% số người đã ở trong lực lượng quân đội hoặc bán vũ trang ( dân quân, du kích) và các lực lượng phục vụ chiến đấu khác ( ba sẵn sàng, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến) và nếu như viết lịch sử và sự đóng góp của xã ta về tài vật, sức người và xương máu hẵn phải là một công trình biên soạn của nhiều người với cả tạ tư liệu nếu xã ta còn lưu trữ. Một ngôi sao trên quân hàm của những người sống sót trở về sau 2 cuộc chiến họ phải đánh đổi bằng máu, bằng xương, bằng chính mạng sống bản thân và sự hy sinh, tổn thất, mát mát của hàng trăm, thậm chí hàng ngàn đồng đội ( là người lính lái xe tăng trong cuộc chiến, tôi rất rõ điều này). Tôi tin: anh Lăng, anh Xan, anh Hợi, anh Vận, anh Chương,  anh Thục, anh Nhàn, lão Diên, lão Nghị, lão Thanh, lão Vượng…(còn rất nhiều)...anh em, bè bạn tôi những người cón sống hơn ai hết ho hiểu rất rõ sự khốc liệt, nghiệt ngã của chiến tranh mà số phận rất mong manh giữa sống và chết.
     Gần đây tôi vào Google gõ “ Đức Lạng-Đức Thọ- Hà tĩnh” có được đọc bài của ông (quý danh là Hiệp)- Chủ tịch xã Đức lạng(3)những thông tin tôi biết được cũng chỉ mang tính phổ quan, tổng quát. Đành rằng cũng khó có thể thống kê đầy đủ, cụ thể,tỷ mỹ và chi tiết diện mạo của một xã có quá nhiều thành tích trong hiện tại, xin nhắc lại kẻo mai một và có lỗi với tiền nhân( có thể ông và các ông không biết hoặc chưa biết. Đáng tiếc trong cải cách ruộng đất, các đình, miếu bị đập phá và sắc phong của các dòng họ bị tiêu hủy khồng để lại một manh mối thư tịch nào, khả dĩ có thể khẳng định Đức Lạng là vùng “ địa linh- nhân kiệt”, hay được liệt vào “di sản văn hóa” “di sản lịch sử”.
     Tôi nghe nói xã ta có một nữ giáo sư ( hình như người họ Lê- vì khi tôi lớn, thế hệ ông Lê Nga- Lê Bảo- Lê Mỹ Quế không còn ở xã và con cháu cũng tứ tán nhiều nơi. Khi ở Quảng Ngãi tôi đã gặp vợ con ông Lê Bảo).
     Tôi cũng nghe nói : xã ta có một P.T.S ( nay là tiến sỹ) tên là Vọng ( hình như em ruột đại tá Thụ) con ông Hợp – một trong vài đảng viên đầu tiên của huyện Đức Thọ từ năm 1930 – 1931, cũng là oan sai trong cải cách ruộng đất nên thành danh ở Thủ đô. Khi tôi lớn anh ấy đã không còn ở Đức Lạng nữa.
     Và hiện tại tôi biết chắc chắn ít nhất có 03 tiến sỹ thoát thai từ Đức Lạng: con trai anh Thục (ông Bộ Trác): Tiến sỹ ở Hàn quốc, con Võ Ngọc Tú (ông Bút) là bạn tôi hình như tiến sỹ ở Úc(?) và con trai tôi: Võ Quế Sơn : Tiến sỹ ở Cộng hòa Liên bang Đức. Có thể còn nữa nhưng không được cập nhật thông tin ( hy vọng được cảm thông và tha thứ).
     Nhân 50 năm thành lập trường THPT cấp 3 Đức Thọ xin được nói về thế hệ anh tôi- thế hệ tôi- hồi học sinh cấp 3 Đức Thọ “ Trường Quốc Tử Giám” đầu tiên của miền thượng đức( 1965). Người Đức Lạng thế hệ anh tôi học cấp 3 Trần Phú không quá số đốt trên ngón tay của một bàn tay- chính xác mà tôi biết là 09 người, có thể không quá khi nói rằng họ là lớp tinh hoa, là nguyên khí, hiền tài của đất nước” sinh bất phùng thời”. Trước hết xin nghiêng mình trước anh linh của liệt sỹ: Nguyễn Đình Diệm ( con ông Ngụ) xóm Trùng Đồng (1). Học xong lớp 10 ( thời  đó lớp 10 rất hiếm) anh vào bộ đội ra đa tên lửa và hy sinh trong những ngày đầu tiên khi máy bay đánh vào Thành phố Vinh – cùng thế hệ liệt sỹ Nguyễn Đình Diệm còn có anh Đồng( ông Thao) anh Hy ( ông Huân xóm Trùng Đồng) anh Nhung ( xóm Minh Tân) anh Trí ( ông Tuệ- xóm Minh Quang). 4 trong 5 học sinh thế hệ này “ thế hệ khai  khoa” của Đức Lạng đều mặc áo lính lặn lội khắp mọi nẻo ngã của chiến trường. Giai  đoạn, hoàn cảnh lịch sử gắn trên ve áo họ phù cấp hiệu sỹ quan rất có thể, nếu hanh thông, phong thuận trên con đường khoa học trong các anh có người là giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ ở các Viện nghiên cứu trong hay ngoài nước cũng nên.
     Rồi nữa, một thế hệ kế tiếp: anh Giám ( ông Ngân- xóm Trùng Dương), anh Lâm ( ông Quế) anh Án ( ông Thám đều ở xóm Trùng Hưng) anh Trang ( có thân phụ là liệt sỹ chống Pháp – xóm: Minh Đức)- 3 trong 4 anh thành sỹ quan: anh Lâm ( ông Quế) sỹ quan tên lửa học ở Liên Xô, nghe nói anh Trang là đại tá- bác sỹ trưởng khoa ở viện 108 quân đội, anh Án là đại úy – bác sỹ chủ nhiệm quân y ở lữ đoàn tên lửa Cam Ranh, anh mất sớm vì bệnh hiểm nghèo, chỉ có anh Giám – phó tổng giám đốc một tổng công ty.
     Khép lại một giai đoạn chỉ có 09 người học cấp 3 trong toàn xã ( mà thuở ấy cả huyện chỉ có một trường cấp 3 Trần Phú).
    Thế hệ đầu tiên của trường cấp 3 Đức Thọ( 1965) kể cả 03 khóa chưa quá 20 người.
*Lớp 10: anh Vọng ( con Thầy Trọng), anh Từ (ông Từ),anh Bình ( ông Tương), chị Thư (ông Mạnh), anh Hợi ( ông Nuôi Xuân).
*Lớp 9: anh Quát ( bà Tuyết), anh Áng (ông Tứ), chị Tuyết ( ông Nhuận), anh Hà ( ông Hoe), anh Pho ( ông Ngân), anh Ban ( ông Lưu).
*Lớp 8: Thông ( ông Toản), Lộc ( ông Quế), Dương ( ông Bình), Xanh ( ông Nghiêm), chị Lâm ( ông Huân), Việt (ông Tài), Nghị ( ông Kiệm) và tôi ( Võ Vĩnh Khuyến con ông Trợ).
     Không kể 3 nữ còn 17 học sinh thì 12 người nhập ngũ hoặc khi đang học cấp 3 Đức Thọ ( Lộc ông Quế - Hà ông Hoe ) hoặc khi đã vào trường đại học. Trong đó có 3 người hy sinh : anh Võ Trọng Quát, lão Hà ông Hoe và lão Võ Thanh Dương. Chúng tôi là thế hệ vàng xét góc độ công dân, tôi nghĩ : góc độ học đường dường như chúng tôi là thế hệ sinh bất phùng thời, hơi thua thiệt, chịu nhiều mất mát.
    Xin không nói về sự thành đạt ( dù là sự thành đạt trong cam go, khó khăn, dữ dằn khốc liệt và vô cùng nghiệt ngã của chiến tranh). Thế hệ chúng tôi một thời trai trẻ mạnh khỏe và sung mãn lăn lóc ngụp lặn trên mọi nẻo ngã Trường Sơn còn sống trở về sau cuộc chiến, đã là sự may mắn. Dù không hệ thống liên tục nhưng được cầm bút đào bới trên cánh đồng chữ nghĩa đã là hạnh phúc vô bờ. Trong tiềm thức, tâm tưởng, tôi không quên các anh tôi, các bạn tôi một thời đi học, nhất là các anh các bạn đã vĩnh viễn nằm lại ở một nơi nào đó trên những cánh rừng Trường Sơn. Những công trình như: Kim Tự Tháp, Vạn Lý Trường Thành, hay Tháp Eifel có thể hoang phế, mờ nhòa, phai bạc bởi sự bào mòn của thời gian năm tháng, nhưng những chân dung: của anh Võ Trọng Quát, của lão Hà, của lão Võ Thanh Dương và của đám học sau tôi ( cũng cấp 3 Đức Thọ) như lão Cương ( con ông Hiệu) và lão Tân ( con ông Mai Lộc lão này không hy sinh mà ra đi do di chứng chiến tranh. Hắn có bài thơ “ học đêm” đăng trong: “thơ chống Mỹ”.  Năm 1974 tôi còn gặp lão điều trị ở Viện 41 Quân đội tại Bố Trạch- Quảng Bình).  Một lão Hà hiền như con gái, lành như hạt lúa củ khoai, một Võ Thanh Dương mắt sáng, dáng cao gầy chữ đẹp vẽ giỏi và rất tài hoa, một Võ Trọng Quát đẹp trai, thông minh, dĩnh ngộ, khôi ngô bắn súng rất giỏi ( là lớp trưởng lớp bắn súng nghiệp dư đầu tiên và duy nhất do Ty giáo dục Hà Tĩnh tổ chức tại trường cấp 3 Đức Thọ mà Thầy Trần Văn Mậu làm huấn luyện viện).
     Con người ta chỉ thật sự mất đi, khi không còn tồn tại trong lòng người đang sống. Một con người, cũng như một dân tộc nếu lãng quên quá khứ, lịch sử là mất nội lực sức sống và không gốc rễ để tồn tại.
    Phần cuối xin đôi lời với các bạn nhỏ người Đức Lạng đang học cấp 3 Đức Thọ: mỗi giai đoạn, mỗi hoàn cảnh khác nhau và môi trường cũng khác nhau. Quan niệm sống, lối sống, phong cách sống và mức sống cũng không giống nhau. Do vậy tôi không có ý khuyên nhủ hay răn dạy một điều gì, chỉ hy vọng các bạn nhỏ học hết mình để có thể trở thành một người tử tể. Các bạn có thể hỏi bố mẹ ( hay ông bà): “ Khuyến Trợ là ông nào? Hay anh nào?” hẳn những người biết tôi  sẽ trả lời: “ cái thằng nghịch nhất Đức lạng” 17 năm sống ở quê chỉ một người khen tôi là ông Mậu ( Bà Bình) làm thợ may. Học cấp 2 Đức Đồng, rồi cấp 3 Đức Thọ tôi vẫn là “một học trò cá biệt “. Sau 2 năm đại học rồi 4 năm lính trong chiến tranh, khi tôi trở về khoa văn Đại học Sư phạm Vinh ( 1976) Thầy Đậu Văn Ngọ phó chủ nhiệm khoa hỏi tôi “ Anh Khuyến có còn nghịch nữa không”. Nói như vậy để thấy rằng cá nhân tôi “ rất cá biệt”. Thế nhưng: Tôi là người duy nhất của học sinh cấp 3 Đức Thọ ( khóa 1969) tổng kết văn và địa 5 điểm, sử 4 ( khóa ấy văn tổng kết 5 có 6 người mà Thầy Trần Quốc Vinh đã từng dạy văn cấp 3 Đức Thọ là một trong số đó). Khóa thi đại học đầu tiên 1970 tôi đạt điểm á khoa ( mà thủ khoa là Lê Xuân Đồng Giám đốc Sở GDĐT Thanh hóa) tôi đã từng lưu ban khi thi tốt nghiệp điểm văn 1 điểm ( một  điểm).Thầy Nguyễn Văn Thinh (cũng đã từng dạy văn cấp 3 Đức Thọ )có nói với tôi: “ Người biết bơi, thậm chí bơi giỏi vẫn có thể chết đuối” dù kiến thức cơ bản có rơi rụng theo vết xích xe tăng ( tôi là người lính lái xe tăng) trong chiến tranh, nhưng vốn sống phong phú cộng với sự nổ lực cá nhân khi tốt nghiệp đại học, trong đó môn “ văn học Việt Nam” tôi là người đầu tiên và duy nhất đạt điểm 10 ( khoa văn trường Vinh có từ khi thành lấp 1959 đến 1978) tôi học lớp 15B khoa văn và 30 năm giảng dạy ở trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ngãi, Đại học Phạm Văn Đồng cũng là giảng viên duy nhất không có học vị Tiến sỹ, Thạc sỹ trong khoa nhưng lại cũng là giảng viên duy nhất trong khoa là Hội viên Hội Văn nghệ Nghĩa Bình ( ngay từ Đại hội I) và sau này là Hội văn nghệ Quảng Ngãi. Tôi đã có gần 200 bài nghiên cứu, phê bình, giới thiệu về “Văn học Việt Nam” được đăng tải trên các báo, tạp chí lý luận, nghiên cứu khoa học ở các tỉnh, thành, trường đại học và học viện ( kể cả trong lực lượng vũ trang).  Không phải là để khoe mẽ hay “tự đánh bóng mình” gì ở đây, nhưng đó là một sự thật.
     Các bạn nhỏ người Đức Lạng học cấp 3 Đức Thọ có thể hình dung: thời tôi, chưa được kết nạp Đoàn viên dù học giỏi cũng đừng mơ vào đại học. Do nghịch và rất “ cá biệt” mà tôi và Nguyễn Lục ( Đức Long) là hai thanh niên cuối cùng được kết nạp đoàn vào những ngày cuối cùng của khóa. Trong thời gian tại ngũ tôi viết đơn xin vào Đảng ngày 25 tháng 7 năm 1974 từ miền tây Quảng Bình đơn vị đã cử người về Đức Lạng để xác minh lý lịch cũng do nghịch nên khẩu súng AK bang gấp bị gãy kim hỏa ( súng của tôi) và xe tăng của tôi lái  trong một lần xuất xe gãy răng bánh xe chủ động ( có thể do giới hạn kỹ thuật) qua hai lần xét duyệt rời Quân đội tôi không được vào Đảng. Là giảng viên dạy văn nhưng tôi thuộc dạng “ cá tính không giống ai” “ lập dị” “ phiên bản Nguyễn Công Trứ”… mãi đến 22/6/2004 tôi mới được kết nạp đảng ở tuổi 52. Trong 87 đảng viên của trường cao đẳng sư phạm Quảng Ngãi tôi là người đầu tiên vào Đảng ở tuổi ngoài 50.  Nếu nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường 17 năm đối tượng đảng ( theo cand.com ngày 12/1/2013) thì thời gian đối tượng đảng của tôi gần gấp đôi ( kém 01 tháng 3 ngày là tròn 30 năm đối tượng đảng).
     Tôi đã kháng định bản lĩnh dân Đức Lạng, dân Nghệ quê mình bằng chính trí tuệ và tư chất cá nhân. Hy vọng các bạn nhỏ: có nghịch thì hãy nghịch cho thông minh tỉnh táo đừng lếu láo, liều lĩnh. Mà thời nào cũng vậy học trò vẫn là thế giới thứ 3 của “ nhất quỷ nhì ma” nhưng đã học thì phải học hết mình, đam mê để ít nhất làm được người tử tể, có văn hóa. Con đường học vấn không dễ nếu không có ý chí, bản lĩnh, nghị lực xin đừng mon men, mạo hiểm chiếm lĩnh được đỉnh của nó.
    Và cuối cùng: Nếu ai trong số các bạn nhỏ người Đức Lạng hiện tại và tương lai vào học ngành văn các trường đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh, trí tuệ thì tôi đã lão hóa không giúp được gì nhiều điều có thể giúp được là: cho phép các bạn sử dụng số sách, tài liệu mà tôi có (kể cả những cán bộ nghiên cứu văn học, người Đức Lạng ở TP HCM), xin liên hệ Võ Vĩnh Khuyến  DĐ 0914910245.
____________________________________________________________________________(1) Tên xóm trong bài là tên xóm cũ cách đây 50 năm.
(2) Xin được gọi các bạn bè cùng trang lứa là “ lão” như tôi đã từng goi 50 năm về trước
(3) Địa giới Đức lạng cách đây 50 năm không bao gồm Bồng Phúc, phía đường tỉnh lộ 5 xóm Tân Sơn chỉ đến bến đò, xóm Tân Đồng giờ chỉ còn mỗi cây đa nhà lão Danh ( con ông Lan).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét