Kỹ năng giải quyết vụ án: “Tranh chấp thừa kế tài sản” và một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung
Tranh chấp dân sự là loại tranh chấp chiếm số lượng lớn trong thực tiễn
giải quyết tranh chấp tại các Tòa án hiện nay. Quan hệ dân sự diễn ra
hằng ngày trong cuộc sống xung quanh chúng ta, mâu thuẫn về những vấn đề
nảy sinh trong nó là điều không thể tránh khỏi. Những mâu thuẫn đó trở
nên căng thẳng và nặng nề hơn khi nó bắt nguồn giữa những người thân
thích , những người chung huyết thống. Ở đây chúng ta đang nói đến tranh
chấp về thừa kế - một dạng tranh chấp khá phổ biến và phức tạp trong xã
hội, liên quan đến nhiều người, nhiều vấn đề như di sản của người đã
mất, về quyền nhân thân và bao hàm cả yếu tố truyền thống, tình cảm của
những người tham gia vào tranh chấp đó, đòi hỏi Thẩm phán cần chuẩn bị
một số kỹ năng cần thiết để có thể giải quyết vụ án một cách hợp tình,
hợp lý và đúng pháp luật. Nhìn chung, tranh chấp thừa kế đòi hỏi Thẩm
phán cần có những kỹ năng vừa sắc sảo vừa tế nhị mới có thể xử lý tốt
những mâu thuẫn, bởi thừa kế ngoài vấn đề liên quan đến tài sản của
người đã mất và ở một góc độ khác thì ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm
của những người trong cuộc, nếu xử lý không khéo sẽ làm trầm trọng thêm
mâu thuẫn, phá vỡ những tiêu chí về đạo đức, mỹ tục đã hình thành qua
nhiều thế hệ dòng tộc. (Thẩm phán Tấn Chinh - TAND Quận 10)
I.Kỹ năng giải quyết vụ án: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền sở hữu về thu
nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở…". Trên nền tảng đó và nhiều văn
bản pháp luật đã không ngừng hòan thiện các quy định về thừa kế nhằm đảm
bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Tuy
nhiên, do những trở ngại khách quan nên công dân vẫn chưa nắm bắt và
hiểu hết các quyền và nghĩa vụ, cũng như các quy định pháp luật về thừa
kế nên dẫn đến nhiều tranh chấp vẫn tồn tại. Kỹ năng của Thẩm phán trong
việc giải quyết vụ án có vị trí quan trọng, một mặt là cầu nối giúp các
đương sự dung hòa lại với nhau, mặt khác chỉ ra những qui định của pháp
luật để các đương sự hiểu được bản chất pháp lý vấn đề tranh chấp của
mình, trên cơ sở đó hướng các đương sự đi đến một sự thỏa thuận phù hợp
với quy định của pháp luật, nếu sự thỏa thuận không thành, thì cần đến
một phán quyết của Tòa án, nhưng cách hành văn trong phán quyết thế nào
cho phù hợp với những quy định của pháp luật và để rõ ràng trong việc
thi hành án sau này, thì còn những quan điểm trái chiều cần có sự hướng
dẫn để tạo sự thống nhất.
Những quan điểm tồn tại:
Bộ luật Dân
sự 2005 không định nghĩa về thừa kế nhưng có thể hiểu theo nghĩa chung
nhất thì thừa kế là sự chuyển dịch tài sản và một số quyền khác từ người
chết sang những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc được quy định từ Điều 646 đến Điều 673 của Bộ luật
Dân sự 2005 và thừa kế theo pháp luật được quy định từ Điều 674 đến Điều
680 của Bộ luật Dân sự 2005.
Tranh chấp thừa kế là sự mâu thuẫn
giữa những người có mối quan hệ mật thiết với nhau hoặc ít nhiều có sự
liên quan nhất định với người đã chết, đó có thể là tranh chấp về quyền
thừa kế, về thanh toán và phân chia di sản hoặc về việc thực hiện nghĩa
vụ tài sản do người chết để lại…
Trong bài viết này, tác giả bài viết nêu nên một vụ án cụ thể và đang tồn tại một số quan điểm xung quanh cách tuyên án.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B là vợ chồng hợp pháp chung sống với
nhau có 03 người con chung là: Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị D và Nguyễn Văn
Đ. Ngoài ra ông A còn chung sống không làm đăng ký kết hôn với bà Nguyễn
Thị S sinh được 02 người con chung là Nguyễn Văn E và Nguyễn Thị F. Ông
A và bà B có tài sản chung là nhà đất I. Năm 2005 ông A chết. Ngày
18/02/2013 Nguyễn Văn E có mẹ là bà Nguyễn Thị S đại diện theo ủy quyền
khởi kiện bà Trần Thị B để yêu cầu chia thừa kế tài sản trên. Tại Tòa bà
S yêu cầu chia thừa kế bằng tiền. Bị đơn bà B và các con của bà B không
đồng ý chia.
Liên quan đến vụ án trên, tồn tại quan điểm về hai cách tuyên án như sau:
- Quan điểm 1 về cách tuyên án: “…chia trị giá nhà đất cho các đương sự
theo kỷ phần tại thời điểm thi hành án…thi hành tại cơ quan thi hành án
dân sự có thẩm quyền”.
- Quan điểm 2 về cách tuyên án: “…phân chia
di sản thừa kế bằng tiền hoặc bằng hiện vật, trường hợp các đương sự
không thỏa thuận được thì di sản sẽ được bán để chia theo quy định tại
khoản 2 Điều 685 Bộ luật Dân sự…giao cho cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền bán đấu giá di sản và ưu tiên cho những người được hưởng di
sản thừa kế được quyền mua lại”.
Quan điểm tác giả bài viết đồng ý với quan điểm 1 bởi những lý do sau:
Khoản 2 Điều 685 của Bộ luật Dân sự có thể hiểu dùng để áp dụng trong
trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong trường hợp cụ thể nêu trên các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án; nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan của phía nguyên đơn yêu cầu chia bằng tiền, bị đơn và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của phía bị đơn không đồng ý chia. Đối
tượng được hưởng di sản thừa kế trong trường hợp này là 06 người, nên
phương án chia về diện tích là không thể, hơn nữa đương sự không có yêu
cầu chia diện tích (Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự qui định về: Quyền
quyết định và tự định đoạt của đương sự); do vậy Tòa án tuyên xử chia
cho các đương sự được hưởng trị giá nhà đất tại thời điểm thi hành án là
hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, cũng như phù hợp với Điều
6 của Luật Thi hành án dân sự (tại giai đoạn thi hành án các đương sự
có quyền thỏa thuận thi hành án).
Việc tuyên trong bản án giao cho
cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi nhà đất trên để chia
cho các đương sự tại thời điểm thi hành án, thì sẽ gặp khó khăn cho các
đương sự. Bởi quy định tại Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự là: nếu
đương sự không tự nguyện thi hành án, thì bị cưỡng chế để thi hành. Nếu
tuyên xử giao nhà đất trên cho thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi
để thi hành án là đã vô tình tướt đoạt quyền tự nguyện thi hành án của
đương sự như quy định Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Vì cơ quan thi
hành án dân sự là cơ quan thi hành bản án, quyết định của Tòa án, nếu
tuyên án: giao cơ quan thi hành án dân sự phát mãi để chia tiền cho các
đương sự, về nguyên tắc thi hành án dân sự phải thi hành đúng như nội
dung bản án của Tòa án đã tuyên và nếu như vậy tại giai đoạn thi hành
án, phía bị đơn có tiền để trả và xin không phát mãi nhà thì liệu cơ
quan thi hành án dân sự có thể làm trái phán quyết của Tòa án là không
phát mãi nhà không ? và ngược lại như ví dụ sau đây: ông A cho ông B vay
01 tỉ đồng, đến hạn ông B không trả nợ, ông A kiện ông B ra Tòa. Tòa án
tuyên ông B trả nợ cho ông A. Bản án có hiệu lực thi hành. Ông B ngoài
căn nhà đang ở không còn tài sản nào khác; không lẽ trong trường hợp này
Tòa án không tuyên giao thi hành án dân sự phát mãi nhà của ông B để
thu hồi nợ trả cho ông A thì cơ quan thi hành án không được phát mãi nhà
của ông B trong trường hợp này ?, việc phát mãi tài sản để thi hành án
là thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự, không phụ thuộc vào phán
quyết của Tòa án là yêu cầu phát mãi thì mới được phát mãi; do vậy khi
tuyên án đối với trường hợp trên, chỉ lên tuyên: Các bên thi hành tại cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Không cần thiết phải tuyên chỉ
định phát mãi tài sản như quan điểm thứ 2 nêu trên.
* Những vấn đề cần lưu ý khác khi nghiên cứu hồ sơ: “tranh chấp về thừa kế”:
Thừa kế có mối quan hệ không thể tách rời với Luật Hôn nhân và Gia
đình, đặc biệt trong giai đoạn đất nước có chiến tranh thì vấn đề ly
tán, hôn nhân cũng tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, sẽ là thiếu sót nếu
Thẩm phán không tìm hiểu kỹ các quy định điều chỉnh vấn đề hôn nhân
trong giai đoạn lịch sử đó, cũng như các quy định mới sau này.
Trong
trường hợp một người sinh sống ở miền nam có nhiều vợ trước ngày
25/3/1977 (ngày ban hành Nghị quyết 76/CP của Chính phủ, hướng dẫn thi
hành và xây dựng pháp luật thống nhất cho cả nước) hướng dẫn tại Điểm a,
Khoản 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thừa kế năm 1990:
“Trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 25/3/1977) thì tất cả
người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng.
Đối với
cán bộ, bộ đội ở miền Nam đã có vợ (có chồng) ở miền Nam tập kết ra Bắc
năm 1954 lại lấy vợ hoặc chồng khác ở miền Bắc, theo hướng dẫn tại
Thông tư số 60/DS ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao, đây là
những trường hợp ngoại lệ, có vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng nhưng pháp luật vẫn công nhận hôn nhân hợp pháp của họ. Vì vậy,
khi xác định thời điểm chung sống là cơ sở để xác định diện và hàng thừa
kế.
Đối với trường hợp chưa đăng ký kết hôn, hôn nhân không có đăng
ký kết hôn nhưng không vi phạm các điều kiện kết hôn khác, Thẩm phán
cần thu thập chứng cứ nhằm xác định thời điểm chung sống:
+ Trường
hợp quan hệ hôn nhân không có đăng ký kết hơn xác lập trước ngày
3/01/1987 thì thời điểm mở thừa kế không kể khi nào, người chồng người
vợ còn sống đều được hưởng thừa kế. Chứng cứ trong trường hợp này có thể
là ảnh chụp, lời xác nhận của họ hàng nội tộc hai bên…
+ Quan hệ
hôn nhân xác lập từ ngày 3/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001, Thẩm phán
cần xác định thời điểm mở thừa kế của một bên trước ngày 01/01/2003 thì
bên vợ hoặc chồng còn sống cũng được hưởng thừa kế.
+ Quan hệ hôn
nhân được xác lập từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và thừa
kế của một bên mở sau ngày 01/01/2003, trường hợp này Thẩm phán cần thu
thập chứng cứ là bản danh sách xin đăng ký do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền lập trước ngày 01/01/2003.
Tài sản khi chia thường không trùng
khớp với di sản để lại, có sự hao mòn nhất định, cùng sự thất lạc các
giấy tờ, đòi hỏi Thẩm phán khi xác định cần hết sức cẩn thận và chi
tiết, về giá cả tài sản ở thời điểm hiện tại, về các biên bản thẩm định
cũng như các khả năng sinh lợi của tài sản (đặc biệt là bất động sản).
Do đó, trong giai đoạn thu thập chứng cứ, Thẩm phán cần vận dụng hết
những kỹ năng của mình để có hướng giải quyết vụ án tốt nhất. Trong khi
nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy các chứng cứ mà đương sự cung cấp chưa đầy
đủ, thì Thẩm phán cần nhanh chóng yêu cầu đương sự cung cấp thêm tài
liệu chứng cứ. Thẩm phán cũng có thể chủ động thu thập chứng cứ. Sau đó,
cần sắp xếp một cách có hệ thống các tài liệu đã thu thập được, đặc
biệt là các tài liệu quan trọng, có thể làm thay đổi nội dung vụ án.
Giai đoạn này đòi hỏi Thẩm phán phải nhạy bén, cẩn thận cũng như phải
làm việc với tinh thần và trách nhiệm cao nhất, có như thế mới hoàn
thành tốt công việc của mình. Đạo đức nghề nghiệp cũng là vấn đề phải
bàn tới ở đây, Thẩm phán không vì tư lợi mà tìm ra các chứng cứ không
hợp pháp hoặc biết đương sự cung cấp chứng cứ giả nhưng vẫn không cảnh
báo, điều này có thể làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án và vi
phạm pháp luật hình sự.
II/ Một số kiến nghị sửa đổi bổ sung về chế định thừa kế
Điều 663 của Bộ luật Dân sự 2005 quy định vợ, chồng có thể lập di chúc
chung để định đoạt tài sản chung. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho
vợ, chồng cùng thể hiện được ý chí thống nhất trong việc định đoạt tài
sản chung. Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện di chúc chung của vợ,
chồng còn nhiều vướng mắc, bất cập, đặc biệt nó làm giới hạn quyền của
chủ sở hữu trong việc định đoạt tài sản. Theo quy định tại Khoản 1 Điều
664 Bộ luật Dân sự 2005 thì vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế,
hủy bỏ di chúc đó bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 664 Bộ
luật Dân sự 2005 quy định việc sửa đổi, bổ sung, thay thế , hủy bỏ di
chúc chung phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người chết trước
thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung, di chúc liên quan đến phần
tài sản của mình. Như vậy, trong trường hợp này, ý chí của người lập di
chúc chung không thể độc lập trong việc định đoạt tài sản, kể cả phần
tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng
không đồng ý. Để đảm bảo quyền tự do định đoạt của cá nhân, đảm bảo di
chúc được lập phù hợp với ý chí đích thực, tự nguyện của mỗi bên vợ,
chồng, bên cạnh việc quy định vợ, chồng cùng nhau thỏa thuận sửa đổi, bổ
sung, hủy bỏ di chúc chung, thiết nghĩ cũng cần phải thừa nhận quyền tự
do của mỗi bên vợ, chồng trong việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung
trong phạm vi phần quyền của mình trong khối tài sản chung, do không
được sự đồng ý của bên kia. Đồng thời với việc thừa nhận mỗi bên vợ hoặc
chồng có quyền tự do sửa đổi, bổ sung nội dung di chúc chung trong phạm
vi tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, luật cũng cần phải quy định hệ
quả pháp lý của việc này, nhất là việc xác định thời điểm có hiệu lực,
của từng phần di chúc chung sau khi di chúc chung đã bị sửa đổi, bổ
sung.
Điều 668 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ,
chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm
vợ, chồng cùng chết”. Quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc
chung như luật hiện hành sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi
ích hợp pháp của những người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước.
Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ thời
điểm mở thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu
lực, những người thừa kế của người chết trước sẽ không thể yêu cầu phân
chia di sản của người chết đã được định đoạt trong di chúc chung và phần
di sản liên quan tới phần nội dung di chúc chung bị vô hiệu, nếu có;
hoặc trong trường hợp người vợ hay người chồng vẫn còn sống lâu hơn so
với tuổi thọ của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước (như
cha, mẹ của người chết trước, người thừa kế là con riêng chưa thành niên
đang đau yếu cần có tiền để chữa bệnh…), làm những người này mất quyền
được hưởng di sản. Do đó, cần tách quy định về di chúc chung thành một
mục riêng nhằm đảm bảo tính đặc thù của các quy định này, đồng thời dự
liệu đầy đủ các nội dung khác nhau của di chúc chung. Cụ thể, quy định
về di chúc chung sẽ được thiết kế thành một mục riêng - mục 2 của Chương
thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự 2005. Theo đó, Chương thừa kế
theo di chúc sẽ có hai mục là: mục 1 quy định chung về di chúc và thừa
kế theo di chúc; mục 2 quy định về di chúc chung của vợ, chồng. Bên cạnh
đó, các quy định về di chúc chung của vợ chồng phải được quy định sao
cho nhất quán với các quy định khác có liên quan.
Lĩnh vực pháp luật
về thừa kế là lĩnh vực khá phức tạp, đòi hỏi người Thẩm phán phải vừa
khéo léo, vừa sắc sảo, nhạy bén mới có thể giải quyết tốt vụ việc. Từ Bộ
luật Dân sự 1995 đến Bộ luật Dân sự 2005 đã có những quy định sửa đổi
tích cực nhằm hoàn thiện về lĩnh vực này, cho thấy sự phát triển không
ngừng về chế định thừa kế. Sự phát triển đó suy cho cùng cũng bắt nguồn
từ chính những nhu cầu và thực tế xã hội, những tranh chấp về thừa kế
vẫn tồn tại với số lượng lớn, vẫn cần đến sự tận tâm, tận lực của các
cấp, các ngành, đặc biệt là những Thẩm phán làm công tác xét xử án tranh
chấp về thừa kế tài sản. Nhiệm vụ của người Thẩm phán là sứ mệnh cao
quý với tinh thần trách nhiệm của mình, cần liên tục cập nhật những kiến
thức cũng như các kỹ năng cần thiết để có kiến thức một cách tối ưu
nhất.
Trên đây là một số kiến nghị sửa đổi về chế định thừa kế - một
chế định quan trọng của pháp luật dân sự Việt Nam. Sự không ngừng hoàn
thiện pháp luật, một mặt nhằm bắt kịp sự phát triển của xã hội, đồng
thời tạo thuận lợi cho công dân cũng như những người áp dụng pháp luật,
đặc biệt là Thẩm phán trong quá trình thu thập chứng cứ và xét xử vụ án -
là việc làm cần thiết, góp phần vào sự phát triển của xã hội nói chung
và sự phát triển của Tòa án nhân dân nói riêng./
http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/118?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét