TRẦN HỒNG LƯU
TS. Đại học Kinh tế Đà Nẵng.
Trần Quốc Tuấn
sinh năm 1228. Ông ra đời khi họ Trần vừa thay thế nhà Lý làm vua trong một đất
nước đang đói kém, loạn ly. Trần Thủ Độ, một tể tướng tài giỏi của triều Lý, đầy
mưu lược đã sắp đặt để giữ thế nước đang chông chênh thành bền vững. Bấy giờ, vị
vua cuối cùng của triều Lý là Lý Chiêu Hoàng lên ngôi khi tuổi còn rất nhỏ. Trần
Thủ Độ đã sắp đặt cho Chiêu Hoàng lấy chồng là Trần Cảnh. Một thời gian sau,
Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng lên làm vua. Cuộc chuyển giao quyền lực triều
chính giữa hai dòng họ Lý - Trần diễn ra một cách hòa bình. Nhưng trăm họ và
tôn thất nhà Lý vẫn dị nghị là nhà Trần cướp ngôi nhà Lý. Trần Thủ Độ rất lo lắng.
Bấy giờ, công chúa Thuận Thiên (chị gái của Chiêu Hoàng) lấy chồng là Trần Liễu
(anh ruột của Trần Cảnh) đang có mang. Trần Thủ Độ đã ép buộc Trần Liễu nhường
vợ cho Trần Cảnh để chắc chắn có một đứa con. Trần Liễu tức giận, nổi loạn. Trần
Thủ Độ dẹp tan, nhưng tha chết cho Trần Liễu. Song điều này không làm yên lòng
thù hận của Trần Liễu. Vì thế, khi con trai lớn lên, Trần Liễu kén thầy giỏi dạy
cho con của mình thành bậc văn võ toàn tài, ký thác vào con mối thù khôn nguôi.
Người con trai ấy chính là Trần Quốc Tuấn.
Thuở nhỏ, có người đã khen Quốc Tuấn là bậc
kỳ tài. Lớn lên, Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra
thông minh, xuất chúng, thông kim bác cổ, văn võ song toàn. Trần Liễu thấy con
như vậy mừng lắm, những mong Quốc Tuấn có thể rửa nhục cho mình. Song, cuộc đời
của Trần Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần quốc nạn, nhưng ông đã
chứng tỏ là một bậc hiền tài. Mối thù của cha, ông không bao giờ đặt lên trên
quyền lợi của dân nước, xã tắc. Ông đã biết dẹp thù riêng, vun trồng cho mối
đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, khiến cho nó trở thành cội rễ của những chiến
công vang dội và oanh liệt chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta dưới triều đại
nhà Trần để giữ yên toàn vẹn bờ cõi, non sông, đất nước.
Bấy giờ quân Nguyên sang xâm chiếm Việt Nam . Trần Quốc
Tuấn đã giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải. Hai người là hai đầu mối quan trọng
của hai chi trong họ Trần, một người là con Trần Liễu, một người là con Trần Cảnh.
Sự hòa hợp giữa hai người chính là sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều
Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hung hãn.
Sự hòa hợp giữa
hai vị đại tướng của triều Trần còn được biểu hiện ở hành động Trần Quốc Tuấn
đã chủ động mời Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai
người nấu nước thơm tự mình tắm cho Quang Khải như anh em ruột thịt...
Hành động đó có ý nghĩa sâu sắc để giáo dục, củng cố tinh thần đoàn kết của vua
quan triều Trần, của quân dân Đại Việt, trên dưới một lòng, đồng tâm, hiệp sức
nhất tề đánh tan quân giặc xâm lược.
Một lần khác, Trần
Quốc Tuấn đem việc xích mích trong dòng họ dò ý các con. Trần Quốc Tảng
có ý khích ông cướp ngôi vua. Ông nổi giận định rút gươm toan chém Quốc Tảng.
Do các con và những người tâm phúc xúm vào van xin, ông bớt giận dừng gươm,
nhưng bảo rằng: Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch
tử, phản thầy này nữa! Trong chiến tranh, ông luôn hộ giá bên vua, tay chỉ cầm
cây gậy một đầu bịt sắt. Thế mà vẫn có lời dị nghị, sợ ông sát hại vua. Ông bèn
bỏ luôn phần đầu gậy bịt sắt đó đi, chỉ chống gậy không mỗi khi ở gần bên vua.
Sự nghi ngờ về tấm lòng của ông dần cũng chấm dứt. Ông là người thông hiểu lẽ đời,
chú ý cả tới những việc nhỏ thường ngày để tránh sự hiềm nghi, yên lòng quan,
yên lòng dân, đoàn kết tất cả mọi người vì nghĩa lớn dân tộc. Cả cuộc đời của
ông đã thể hiện một tấm lòng trung trinh son sắt vì vua, vì nước.
Vào thế kỷ XIII,
trong 30 năm (1258 – 1288) quân dân nhà Trần đã ba lần đại
thắng quân Nguyên Mông, viết nên trang sử vàng chói lọi của dân tộc. Cho đến
ngày nay, vẫn còn nguyên câu hỏi đặt ra cho lịch sử dân tộc ta. Đó là, vì sao
và bằng cách nào, nước Đại Việt nhỏ bé, quân ít, dân không đông, tiềm lực có hạn
lại đánh thắng một đội quân xâm lược khổng lồ, hùng mạnh, tàn bạo nhất trong lịch
sử, có trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh đầy đủ và đã từng chinh phục
các nước rộng lớn chạy dài suốt từ châu Á sang châu Âu?
Để lý giải triệt
để điều này, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã và vẫn đang tiếp tục
phân tích để ngày càng rõ hơn. Một trong những lý giải cho điều đó là nước Đại
Việt đã biết vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự Dĩ đoản (binh), chế trường
(trận) mà Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã tổng kết.
Bài Hịch tướng sỹ của ông đã phần nào lý giải được vì sao nhà cầm quân
tài ba Trần Quốc Tuấn có thể huy động được sức mạnh của tướng sỹ nhà Trần với
khí thế Sát Thát, hào khí Đông A và tinh thần Đại Việt mạnh mẽ đến như vậy.
Các nhà nghiên cứu lịch sử đã có những công trình
khoa học ở các cấp độ khác nhau tìm cách lý giải vấn đề này. Song, chúng ta đều
thống nhất đánh giá rằng, tài nghệ quân sự tuyệt vời của Trần Quốc Tuấn đã góp
phần không nhỏ vào chiến thắng oai hùng của quân dân Đại Việt ở thế kỷ XIII.
Chính vì tài nghệ và những công lao to lớn đó mà Trần Quốc Tuấn được các học giả
quân sự nổi tiếng thế giới xếp vào danh sách những nhà quân sự tài ba của thế
giới cùng với Nguyễn Huệ - Quang Trung và Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời hiện đại.
Trần Quốc Tuấn
chính là người đã biết kết hợp hài hoà và nhuần nhuyễn các yếu tố: thiên thời,
địa lợi, nhân hoà (tam tài). Trước một đội quân nhà nghề là đế quốc Nguyên
Mông, để chiến thắng quân xâm lược, chúng ta phải có mưu lược và nghệ thuật
quân sự tài giỏi. Trước hết, phải biết thu phục nhân tâm bằng chính sách khoan
thư sức dân, làm nền tảng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, khi có chiến
tranh sẽ huy động được toàn bộ sức người, sức của, sức mạnh của khối đại đoàn kết
đó để chiến thắng kẻ thù.
Với chính sách lòng
dân không chia, cả nước góp sức chống giặc của Trần Quốc Tuấn đã tạo nền
móng xây dựng quân đội thường trực và các đội dân binh, nhiều tầng, nhiều lớp để
sẵn sàng ứng phó có hiệu quả, chống lại kẻ thù hùng mạnh. Cả nước nhất tề đứng
dậy theo hiệu triệu của triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước nếu có giặc
ngoài đến phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh
vào rừng núi, không được đầu hàng”1.
Trần Quốc Tuấn chủ
trương xây dựng quân đội: “Cần tinh chứ không cần nhiều, dù như Bồ Kiên có trăm
vạn quân mà có làm được gì đâu”. Khi đề xuất chiến lược Lấy đoản chế trường
cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, ông đã để ý nghiên cứu rất kỹ các
trận đánh trong lịch sử Trung Quốc mà đội quân nhỏ thắng đội quân lớn để có thể
áp dụng vào điều kiện cụ thể ở nước ta. Ví như trận Phì Thuỷ, một trăm vạn quân
của Bồ Kiên đã bị quân đội nước Tấn nhỏ hơn đánh cho tan tác.
Không chỉ biết thu phục nhân tâm từ người dân, người lính, Trần Quốc
Tuấn không hề quên quan tâm đến đội ngũ tướng lĩnh, những người trực tiếp
truyền cảm hứng của chủ tướng trước trận tiền. Trong Hịch tưỡng sỹ, ông viết: “Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã
lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì
ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng, đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì
ta cho ngựa, lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ
thì cùng nhau vui chơi”. Hơn thế, Trần Quốc Tuấn còn chỉ rõ cho các tỳ tướng,
thuộc hạ của mình thấy được quyền lợi gắn kết của mình với tập đoàn vương hầu
quý tộc nhà Trần để họ hăng say chiến đấu: “Ta cùng các ngươi bị bắt thì sẽ đau
xót biết nhường nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các
ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng
khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ của cha mẹ các
ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục rồi đến trăm năm
sau, tiếng dơ khôn rửa, tiếng xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng mang
tiếng là tướng bại trận”. Và khi chiến thắng được kẻ thù, thì: “Chẳng những
thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc của các ngươi cũng đời đời được
hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được yên ấm gối chăn, mà vợ con các
ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn
đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm”(2). Không chỉ
khích lệ về quyền lợi, lòng quyết tâm, Trần Quốc Tuấn còn xác định rõ lập
trường cho các tướng sỹ: “Giặc với ta là kẻ thù không đợi trời chung, các ngươi
cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sỹ, chẳng
khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc”.
Từ
đó, ông kịch liệt phê phán thái độ cầu an của những kẻ: “Nhìn chủ nhục mà không
biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân
giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường, đãi yến ngụy sứ mà không biết
căm”. Ông đã đấu tranh không khoan nhượng với những kẻ làm tướng mà “lấy việc
chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn
ruộng, hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước; hoặc ham
săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát”. Hơn thế
nữa, ông còn biết thổi vào hồn tướng sỹ lòng căm thù giặc sâu sắc: “Ta thường
tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm
tức chưa xẻ thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù”(3). Không chỉ có thế,
Trần Quốc Tuấn còn yêu cầu quân dân phải nêu cao tinh thần cảng giác, thường
xuyên luyện tập võ nghệ: “Người người đều giỏi như Bàng Mông; nhà nhà đều là
Hậu Nghệ; có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam
Vương ở Cảo Nhai”.
Trần Quốc Tuấn đặc biệt quan tâm tới sức mạnh tinh thần của quân dân,
tướng sỹ. Tinh thần đó là một trong những yếu tố cơ bản bảo đảm thắng lợi của
cuộc chiến. Nên trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba, ông đã dự
đoán được sự thất bại không thể tránh khỏi của kẻ thù. Trần Quốc Tuấn đã
nói với vua Trần Anh Tông rằng: “Nếu nó
lại sang thì quân ta đã quen việc đánh dẹp, mà quân họ thì ngại về đi xa; vả
lại họ đã cạch về sự thất bại của
Hằng Quán, không có lòng chiến đấu nữa. Cứ như ý thần xem, thì ta tất đánh được”(4).
Hơn thế, Trần Quốc Tuấn quan tâm đến cả vấn đề chiến lược và chiến thuật.
Ông yêu cầu các tướng lĩnh phải thấm nhuần và biết rút ra bài học kinh nghiệm sau
mỗi trận đánh cụ thể. Quan điểm đó của ông đã được Trần Khánh Dư thể hiện trong
lời tựa cho tác phẩm Vạn Kiếp tông bí
truyền thư của Trần Quốc Tuấn như sau: “Phàm người giỏi cầm quân thì không
cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì
không thua, người khéo thua thì không chết… Cho nên, Quốc công ta mới so sánh
đồ bàn về phương pháp của các nhà chép thành một tập”(5).
Nhất quán với tư tưởng chính trị lòng
dân không chia, cả nước góp sức, Trần
Quốc Tuấn đã tạo ra một thế trận khiến cho giặc Nguyên Mông bị đánh khắp nơi,
cả phía trước lẫn phía sau. Đó chính là sự phối hợp tác chiến giữa những trận
tập kích mạnh mẽ của đội quân chủ lực nhà Trần với những trận đánh du kích lẻ
tẻ của các đội dân binh của Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền ở miền
xuôi và của Hà Đặc, Hà Chương, Nguyễn Địa Lô, Nguyễn Lĩnh …ở miền núi. Thế trận
trùng trùng điệp điệp đó đã làm cho kẻ thù khiếp sợ, mất phương hướng, giảm sút
tinh thần chiến đấu, ngày ăn không ngon, đêm ngủ không yên, và thất bại đến với
chúng là điều đương nhiên.
Khi tâu trình với vua Trần Anh Tông về kế sách chống quân Nguyên Mông,
Trần Quốc Tuấn đã nêu rõ: Việc chống giặc
ngoài để giành thắng lợi thì mỗi thời một khác, thời sau không thể bắt chước thời
trước mà phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của từng thời mà có đối sách thích
hợp. Trong Binh thư yếu lược, ông
đã chỉ ra cặn kẽ: “Có chí mà chậm thì người sẽ tính trước ta, thấy mà không
quyết định thì người sẽ phát trước ta, phát mà không nhanh thì người sẽ thắng
trước ta. Khó được ấy là thời, dễ mất
ấy là cơ, nên phải làm nhanh vậy”. Có
thể coi đây chính là sự trải nghiệm, tìm tòi nguyên nhân thắng lợi của các cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm được ông rút ra. Lý luận về thời thế này của ông
rất đáng để người sau suy ngẫm, không chỉ riêng trong lĩnh vực quân sự, mà còn
có ý nghĩa chung cho các công việc khác trong đời người.
Năm 1300, Trần Quốc Tuấn
ốm nặng, vua Trần tới thăm và hỏi ông về kế sách giữ nước. Trần Quốc Tuấn đã
đúc kết kinh nghiệm trong suốt cuộc đời đánh giặc giữ nước của mình một cách
súc tích: “Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh
dã, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì
đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng được người tài giỏi, đất
phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng
dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua
Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm đến
tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi
đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước nhà góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui
nên vậy”(6).
Tư tưởng trên đây là kết quả của sự chiêm nghiệm về lịch sử thăng trầm hàng
ngàn năm của dân tộc ta, mà trực tiếp là ba lần kháng chiến chống tên đế quốc
hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, được Trần Quốc Tuấn tổng kết lại một cách
khá đầy đủ. Đây cũng được coi là bài học lịch sử không chỉ có ý nghĩa hiện tại,
mà còn để lại cho hậu thế suy ngẫm, kế thừa và phát huy lên tầm cao mới.
Để thực hiện phương châm
chiến lược lấy đoản chế trường, Trần
Quốc Tuấn tỏ ra rất linh hoạt và sáng suốt. Ông luôn bám sát thực tiễn diễn
biến của cuộc chiến tranh để đề ra kế hoạch tác chiến, phương pháp và lối đánh
thích hợp. Cụ thể khi phân tích lực lượng, Trần Quốc Tuấn có cái nhìn sáng rõ,
chẳng hạn:
- Đại quân là quân lớn,
quân đông, tức trường trận dùng để đánh những trận lớn.
- Đoản binh là quân nhỏ,
quân ít dùng để đánh tập kích và phục kích.
Từ
thực tiễn cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của quân dân nhà Trần ở thế
kỷ XIII, ta có thể hiểu dĩ đoản chế
trường là dùng lực lượng nhỏ, quân ít để chế ngự đại quân hùng mạnh của
quân Nguyên: Bằng cách tránh cái mạnh của địch là tác chiến bằng kỵ binh trong
không gian rộng lớn, dùng cách đánh du kích của ta để công phá thành, đánh trên
bộ, dụ quân kỵ binh của địch vào nơi rừng núi, hiểm yếu, chia cắt địch để tiêu
diệt chúng...; đồng thời lợi dụng và khoét sâu cái yếu của địch và phát huy cái
mạnh của ta là đánh trận thuỷ chiến, cướp lương thực, buộc địch phải dàn mỏng
lực lượng trên khắp các địa bàn để tiêu diệt chúng. Có thể nhận thấy, thực chất của
tư tưởng quân sự dĩ đoản chế trường
của Trần Quốc Tuấn là dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh,
dùng trang bị kém đánh đối phương có trang bị mạnh, phát huy mặt mạnh của ta,
hạn chế mặt mạnh của địch để đánh thắng chúng. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến dĩ đoản chế trường được thực hiện trong
suốt lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta và là một biểu hiện độc đáo của
nghệ thuật quân sự Việt Nam .
Nước ta đất không rộng, người không đông,
tiềm lực hạn chế, lại luôn phải đối phó với sự xâm lăng của các quốc gia lớn
mạnh hơn mình gấp bội. Muốn đứng vững, tồn tại và phát triển với tư cách là một
nước độc lập, tự chủ, không bị đồng hoá, không bị thôn tính và biến thành nước
chư hầu của phong kiến phương bắc, cộng đồng người Đại Việt phải đoàn kết chặt
chẽ, lựa chọn kế sách, tìm ra nghệ thuật giành thắng lợi trước kẻ thù. Dĩ đoản chế trường là một sáng tạo trong
nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành từ thời Đinh, Lê, Lý đến thời Trần,
được Trần Quốc Tuấn tổng kết, khái quát, vận dụng và phát triển với chất lượng
mới. Trần Quốc Tuấn đã từng đòi hỏi người làm tướng phải biết: “Xem xét, quyền
biến như đánh cờ vậy, tuỳ thời mà làm”, “lấy đoản chế trường”, tránh chỗ mạnh,
đánh chỗ yếu. Ông viết: “Nếu giặc đến chậm như cách tằm ăn, không cần của dân,
không cần được chóng, thì phải chọn dùng người giỏi, xem xét quyền biến như
đánh cờ vậy, tuỳ thời mà làm, có thu được quân lính một lòng như cha con thì
mới dùng được, và khoan thư sức dân để kế sâu gốc bền rễ. Đó là thượng sách để
giữ nước”(7).
Thực tiễn ba lần đại thắng quân Nguyên
Mông là một điển hình cho sự vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn.
Năm 1288, quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ ba với 50 vạn quân, ngoài bộ
binh và kỵ binh, còn có 500 chiến thuyền và một đoàn thuyền chở 70 vạn thạch
lương. Trần Quốc Tuấn tự tin nhận định: “Năm nay đánh giặc nhàn”. Lần
kháng chiến này, Trần Quốc Tuấn tổ chức trận địa phòng ngự tiêu hao địch, nhưng
chủ động để chúng đi qua, chủ động dụ chúng vào vòng vây thế trận của ta. Tháng
1 năm 1288, Trần Khánh Dư đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở Vân
Đồn, thọc một mũi dao vào tử huyệt của giặc, làm chúng không thể kéo dài cuộc
chiến. Giặc vào Thăng Long nôn nóng tiêu diệt đối phương, nhưng không tìm thấy
dấu vết quân Trần, chúng buộc phải lui về Vạn Kiếp và tính kế rút quân. Từ thế
chủ động tiến công, giặc lâm vào thế bị động lui quân và rơi vào trận địa của quân
Trần chờ sẵn. Quân thuỷ của giặc bị ta phá tan trong trận Bạch Đằng. Quân bộ
của Thoát Hoan bị quân nhà Trần cùng dân
binh truy kích đánh cho tơi tả trên đường rút lui qua biên giới. Khí thế Sát Thát của quân dân Đại Việt thời Trần
đã được phát huy cao độ. Sỹ khí đó đã có sức lay động cả khối cộng đồng dân tộc
ít người ở miền núi phía Bắc tham gia đánh giặc và quan trọng hơn đã khơi dậy
cả sự đồng tâm hiệp lực của Hội đồng bô lão tại Hội nghị Diên Hồng lịch sử, lôi
cuốn đến cả cậu bé Trần Quốc Toản thù giặc đến bóp nát quả cam vua ban lúc nào
không biết... Điều đó một lần nữa khẳng định chân lý về lòng yêu nước của nhân
dân ta trong truyền thống dân tộc. Đúng như, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống cực kỳ quý báu
của dân ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại
sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (8). Sức mạnh truyền thống đó được Người chỉ rõ
thêm:
Xét trong lịch sử Việt Nam
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng
Nhiều phen đánh bắc, dẹp đông
Oanh oanh liệt liệt con Rồng, cháu Tiên (9).
Với ba
lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, Trần Quốc Tuấn đã chứng tỏ là
một vị tướng tài ba, anh hùng kiệt xuất. Tư tưởng dĩ đoản chế trường mà
ông có công tổng kết không chỉ là những tri thức quân sự thuần tuý, mà nó được
bảo đảm chắc thắng dựa trên lĩnh vực chính trị. Tránh cái thế “hăng hái lúc
ban mai” của địch, làm cho đội kỵ binh địch bị dàn mỏng trên địa hình sông
ngòi chật hẹp, lầy thụt mà không phát huy được tác dụng; Dùng kế thanh dã, triệt
lương của giặc, đẩy chúng vào cái thế tàn lụi lúc buổi chiều; Lợi dụng
sở đoản, kiềm chế sở trường của địch; khiến cho lối đánh sở trường đánh nhanh,
thắng nhanh của giặc không thể thi thố được, dẫn đến lúng túng và thất
bại. Phát huy sở trường của ta là quen
đánh giặc ở vùng sông nước và ven biển, buộc địch phải bị động tác chiến theo ý
đồ của ta. Đánh giá về giai đoạn lịch sử này, cố Tổng bí thư Trường Chinh viết:
“Ưu điểm trội nhất của cuộc kháng chiến thời Trần là mưu mẹo giỏi”(10). Trong
cả ba lần rút lui chiến lược ở ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, đều
nhằm mục đích từng bước tạo thế, tạo thời
cơ để mở cuộc phản công chiến lược giành thắng lợi hoàn toàn. Dưới sự chỉ
huy tài tình của Trần Quốc Tuấn, quân đội nhà Trần đã biết tận dụng thời cơ dù
là nhỏ nhất để tạo ra cục diện mới ở từng thời điểm. Tận dụng lúc kỵ binh giặc đang chán nản, mệt
mỏi, đó là lúc để quân ta phản công. Chiến thuật rút lui, tránh chỗ mạnh, nhằm
vào chỗ yếu của địch, đã đưa quân Nguyên Mông vào tình thế lơ lửng không thể
thi thố tài năng, muốn đánh mà không được đánh, dẫn chúng đến chỗ ngày càng mỏi
mệt, suy yếu. Trong cả ba cuộc kháng chiến, Trần Quốc Tuấn đã nắm đúng thời cơ
phản công và quan trọng hơn là chọn đúng hướng, đúng mục tiêu, biết tập trung
binh lực đánh vào các cứ điểm quan trọng, nhưng sơ hở hoặc yếu của kẻ thù.
Trong cuộc chiến tranh năm 1285 do địch rải quân ra chiếm đóng, nên lực lượng
của chúng bị dàn mỏng, thế chiến lược bị phân tán. Đó chính là cơ hội để ta
phản công... Rút kinh nghiệm hai cuộc chiến lần trước, lần thứ ba quân của Thoát
Hoan đã tập trung, co cụm, không phân tán lực lượng, mà bố trí thành các tập
đoàn quân lớn tại khu vực có vị trí chiến lược quan trọng để hạn chế sự phản
công của quân ta. Trong thế mạnh bố trí chiến lược mới của địch năm 1288, Trần
Quốc Tuấn đã sớm nhìn thấy điểm yếu của địch là vấn đề lương thực. Nếu ta triệt
được lương thực của địch thì sẽ phá được thế mạnh đó. Thực tiễn chiến tranh đã
chứng minh cho nhận định sáng suốt đó của ông. Chúng ta đã tập trung một lực
lượng vừa phải và đã đánh tan tác đoàn quân chở lương của địch ở Vân Đồn. Từ
đây, thế trận tập trung của giặc bắt đầu bị phá vỡ. Đó là kết cục báo trước sự
thất bại tiếp theo của kẻ thù. Bình luận về các sự kiện này, Trương Phổ, học
giả thời Minh trong sách Nguyên sử kỷ sự
bản mạt cho rằng: “Trấn Nam Vương Thoát Hoan tiến binh, vua An Nam Trần
Nhật Huyên (chỉ Thượng hoàng Trần Thánh Tông) đem quân đánh lại, quân Thoát
Hoan tuy có ngựa mạnh, rong ruổi nhanh như chớp, đánh thành, phá ấp, nhưng giữa
đường quay giáo lui, quân lính tan nát trong chốn quân kia, Toa Đô, Lý Hằng
đồng thời tử chiến…Thoát Hoan xuất quân lần nữa, Nhật Huyên chạy đi để rồi đón
lúc về, đánh lúc mệt, quân Nguyên lại thất bại”. Trương Phổ đã chỉ ra đích danh
nguyên nhân thắng lợi của quân đội nhà Trần: “Đó là vì quân kia tránh cái thế
hăng hái lúc ban mai, đánh cái thế tàn lụi lúc buổi chiều, giấu mình nơi biển
khơi, phục binh nơi ải hiểm, quân Nguyên tuy hùng hổ kéo đến, chưa từng thắng
được một trận. Có thể nói là Nhật Huyên có tài dùng binh vậy”(11). Đó chính là
nghệ thuật quân sự, phép dùng binh của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn. Ông đều lợi dụng được địa hình, khí hậu, thuỷ văn có lợi cho
ta, bất lợi cho địch. Các cuộc rút lui chiến lược của quân Trần đều theo đường
thuỷ làm cho kỵ binh địch trở nên bất lực. Các trận thắng quyết định của quân
Trần thường là thuỷ chiến, ở vùng sông nước, mà đỉnh cao là trận Bạch Đằng Giang
lịch sử. Đó chính là tiếp nối chiến thắng vang dội Bạch Đằng Giang năm xưa khi
Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: Tài năng của Trần Quốc Tuấn biểu
hiện ở sự nhận thức rất rõ dân ta là nguồn sức mạnh giữ nước. Nguồn sức mạnh đó
phải được xây dựng, bồi dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời
chiến, bằng nhiều chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội để tạo cho thế nước ở
đỉnh cao muôn trượng, đủ sức đè bẹp quân thù nguy hiểm.
Công lao của Trần Quốc Tuấn không chỉ là người góp phần quan trọng đưa
cuộc kháng chiến chống xâm lược thời Trần đi đến thắng lợi, mà những tư tưởng
quân sự - chính trị của ông vẫn còn sống mãi với thời gian và vẫn phát huy tác
dụng cho hậu thế trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Trần Quốc Tuấn thật sự là nhà quân sự tài ba, nhà chính trị lỗi lạc, anh
hùng kiệt xuất của đất nước và dân tộc Việt Nam !
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét