Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

ĐỔI MỚI VĂN HỌC

CŨ NGƯỜI MỚI TA

Tuy là thể loại tương đối mới tại Việt Nam nhưng truyện cực ngắn đã có một lịch sử lâu đời. Với những tiêu chí nhất định, ta có thể xem những câu thoại đầu, những mẩu chuyện trong Kinh Phật, hoặc những mẩu chuyện trong Trang Tử - Nam Hoa Kinh là những truyện cực ngắn vô cùng ý nghĩa. Trên thế giới, ngoài tên thông dụng nhất là truyện cực ngắn hay truyện rất ngắn thì thể loại này còn có các tên khác như: truyện chớp, truyện mini, truyện bưu thiếp, truyện vội, truyện ngắn ngắn... Trong khi người Trung Quốc gọi là “vi hình tiểu thuyết” thì người Nhật gọi là “Sho-to sho-to” (phiên âm của short short story) và rất thịnh hành cho điện thoại di động.

Nhà văn Hoàng Long (bìa trái )và nhà văn Mai Sơn (bìa phải)
Ở nước ta, nếu không dùng danh từ truyện cực ngắn thì các tác giả và những nhà làm sách gọi ấn phẩm của mình là truyện mini, truyện rất ngắn, truyện ngắn ngắn... Dịch giả, nhà văn Hoàng Long chia sẻ: “Thể loại truyện cực ngắn mới bước đầu hình thành tại Việt Nam. Tôi hy vọng sẽ có hội thảo về thể loại này để người sáng tác và các nhà nghiên cứu có cơ hội gặp gỡ, trao đổi và thống nhất những vấn đề chung như tên gọi, cách sáng tác”. Anh cũng cho biết, tới đây, anh và nhà văn Mai Sơn sẽ cho ra mắt tạp chí điện tử “bonsai văn học”. Lấy ý tưởng cây bonsai là một “thiên nhiên thu nhỏ”, hai nhà văn này hy vọng tạp chí “bonsai văn học” sẽ là nhịp cầu gắn kết những người có chung niềm yêu thích các thể loại ngắn như truyện cực ngắn, đoản văn và thơ haiku.

HIỂU LẦM TAI HẠI

“Truyện cực ngắn dĩ nhiên phải ngắn, nhưng không phải cứ ngắn là truyện cực ngắn. Một truyện cực ngắn vào khoảng 500 đến 700 chữ nhưng nó phải diễn tả được tư tưởng của tác giả”, dịch giả, nhà văn Hoàng Long nhận định trong buổi tọa đàm gần đây. Nếu tác giả có cách nhìn, tư tưởng của riêng mình thì chỉ cần đọc vài ba truyện người ta có thể nhận ngay ra được là truyện của ai.

Trong các sách truyện cực ngắn hiện nay, rất ít người có được điều này. Cho nên nếu để những truyện cực ngắn cạnh nhau chúng ta rất khó biết được tác giả vì truyện nào cũng chỉ là những ý nghĩ vụn vặt, những cảm nghĩ rời rạc. Người ta đang nhập nhằng giữa truyện cực ngắn thật sự với những tản văn sơ sài, hay những tạp bút tâm sự không đầu không cuối. Hàng loạt các sách đơn giản chỉ là tập hợp những dòng trạng thái (status) trên trang mạng cá nhân, những tản văn vu vơ về nhịp điệu cuộc sống mỗi ngày trôi qua nhưng khi ra mắt độc giả lại được khoác lên trang bìa mỹ từ truyện cực ngắn. Điều này đã gây cho giới trẻ đến với văn chương hiện nay có nhiều sự ngộ nhận.



Đổi mới văn học và những câu hỏi khó…

* GS. Nguyễn Đình Chú


Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp được độc giả yêu thích

1. Đúng là chưa bao giờ trên đất nước ta, khát vọng đổi mới đất nước một cách toàn diện trên các phương diện từ năng lực tư duy, ý thức tư tưởng, cơ cấu kinh tế, thiết chế xã hội đến mô hình văn hóa, tình hình sáng tác văn học nghệ thuật… ở cấp độ vĩ mô cho đến cấp độ vi mô cả lý thuyết và hành động lại sôi động như hôm nay. Đó là điều rất đáng mừng cho đất nước nhưng thực tế thế nào là đổi mới cho đúng đắn, là chính đáng, là ích quốc lợi dân, lại hoàn toàn không đơn giản. Với riêng văn học, từ sáng tác cho đến lý luận phê bình nghiên cứu, vốn là lĩnh vực nhạy cảm nhất về tư tưởng, về quan niệm nhân sinh, về nhận thức cuộc sống, kể cả nhận thức tự thân văn học nghệ thuật, vốn chịu nhiều ảnh hưởng, chi phối của thế giới trong thời đại hội nhập sôi động và tràn lan này nên rất phong phú mà cũng rất phức tạp. Điều đó đã quá rõ.

2. Trước mắt, chỉ thấy một thực trạng chưa đâu ra đâu, xem ra là chẳng ai chịu ai. Ai nghĩ thế nào thì cứ thế mà nghĩ. Tôi nhận thấy như thế, không biết có đúng không? Nếu đúng thế thì cũng là điều dễ hiểu vì thời đại này khác trước nhiều lắm rồi một khi mà con người cá thể đã và đang nổi dậy như ngựa không cương. Một khi mà hệ quả tiêu cực của thời bao cấp đã đẩy con người đến tình trạng ăn theo nói leo là chính đã phải nhường chỗ dần cho tư duy cá thể, tư duy phản biện chân chính, tư duy đối thoại chân chính, nói chung là tư duy đổi mới chân chính, tư duy sáng tạo chân chính thì lại là điều không dễ có ngay được một sớm một chiểu. Trong tình hình hỗn mang, bá nhân bá ý như thế, đáng ra phải có một cách làm mà chưa thấy làm là nêu lên những vấn đề lớn đã được thời đại đặt ra cho văn học để cùng nhau thảo luận, tranh luận và đối thoại, phản biện để từng bước tạo đần được sự đồng thuận của số đông. Chứ hay gì cứ để ở trạng thái làm chẳng ra làm, làm theo kiểu đánh lẻ, chưa ra gì mà đã muốn mọi người theo mình như lối cũ trước đây thì có ích gì?


Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu gây nhiều tranh cãi
3. Từ sau 1975, trong hoàn cảnh giang sơn đã quy về một mối, Bắc Nam thống nhất một nhà, đất nước chăm lo đổi mới. Nghị quyết của Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao quyết tâm đổi mới đất nước một cách toàn diện trong đó có văn học nghệ thuật. Nhưng đã được gì và chưa được gì về đổi mới văn học? Đó là câu hỏi cần có lời đáp. Đúng là nhìn về đại cuộc thì nền văn học hiện nay của đất nước chưa có được một thành quả nào cho thật lớn lao. Nhưng không phải không có những gì đáng quý. Đó là những tác phẩm mang tính chất hiện thực phê phán bao gồm những tác phẩm đã được chấp nhận, kể cả một số tác phẩm đang bị coi là ngoài lề, tổng hợp lại bề thế hơn cả dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1932 – 1945, mặc dù chưa có một "Số đỏ” trên tư cách tác phẩm, một Vũ Trọng Phụng trên tư cách tác gia vốn thuộc quy luật bí hiểm khác - quy luật xuất hiện thiên tài văn chương. Chứ so với "Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, "Tắt đèn” của Ngô Tất Tố trên phương diện tư duy nghệ thuật, bút pháp và ngôn ngữ nghệ thuật thì không ít tác phẩm hiện thực phê phán thời nay đâu có thua, thậm chí còn hơn. Cùng với thành tựu của dòng văn học hiện thực phê phán, dù chưa được gọi là dòng đó, còn có những thành quả văn học có ý nghĩa đổi mới không nhỏ nhờ đã hướng vào cái Tôi cá thể một cách khá sâu sắc mà văn học trước đó thiên về con người cộng đồng hầu như bỏ quên. "Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp là một ví dụ. "Thời xa vắng” của Lê Lựu cũng là vậy. Trong bài thơ "Vị Tướng già” của Anh Ngọc viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng là cách nhìn người như thế. Đúng là Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Anh Ngọc trong các tác phẩm này đã đổi mới văn học bằng sự nhận thức triết học về con người cá thể trong một con người mà văn học trước đó dường như chưa quan tâm gì mấy.

4. Đất nước bước vào thế kỷ 21 đã 14 năm mà tình hình văn học của nước nhà xem ra vẫn chưa có gì khởi sắc hơn. Trong khi đó, chủ yếu là với lớp người cầm bút trẻ, khát vọng đổi mới văn học cả trên hai phương diện sáng tác và lý thuyết, đặc biệt là lý thuyết, thì lại tỏ ra sôi động hơn trước nhiều mà nguyên nhân chính là công cuộc hội nhập thế giới của đất nước đã có nồng độ cao hơn hẳn. Do đó sự ảnh hưởng của ngoại lai đã tăng trưởng một cách rõ rệt và không kém phần phong phú nhưng cũng hỗn tạp. Trong sáng tác, nổi lên mạnh mẽ chưa từng có là vấn đề cái Tôi. Cái Tôi của tác giả. Nhiều nhà thơ trẻ tuyên bố Tôi phải là Tôi, Tôi phải tìm Tôi. Chỉ tiếc là chưa được nghe các bạn trẻ nói rõ cái Tôi là thế nào trong nhận thức của các bạn. Đặc biệt cái Tôi sinh học, cái Tôi sex đã được tung hê một cách khá trần truồng… Những thành tựu đổi mới như thế hẳn là có điều được chấp nhận, có điều chưa được chấp nhận… Trong văn xuôi có "Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu cũng vậy. Không chỉ nhà văn Phạm Xuân Nguyên khen ngợi mà nhà văn lão thành Nguyên Ngọc còn cho rằng tác phẩm có giá trị lớn hơn cả vấn đề thân phận con người, trong khi không ít người coi đó là hiện tượng bệnh hoạn, đầu độc người đọc. Điều có thể nói là tình hình đổi mới trong sáng tác nhìn chung vẫn chưa có thành tựu gì đáng được số đông hoan nghênh.

5. Vì vậy, vẫn phải bắt đầu lại từ việc hiểu thế nào là đổi mới văn học? Rất cần các nhà lý luận và sáng tác đang hăm hở đổi mới văn học nước nhà hôm nay hãy trả lời những câu hỏi sau sao cho tới nơi tới chốn. Khi nói tới đổi mới thì cùng với yêu cầu phải biết đổi mới trên những phương diện nào thì có cần biết thêm sự đổi mới đó còn có liên quan gì tới cái cũ nữa không? Nếu còn liên quan thì liên quan thế nào? Nếu còn thì nó là gì trong phạm vi văn hóa, văn học Việt Nam ta? Trong khi đổi mới, vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc là như thế nào? Đây là chuyện đổi mới văn học trong thời hội nhập thế giới sôi động. Vậy bản lĩnh trong việc tiếp nhận ảnh hưởng thế giới là thế nào? Sự khác biệt giữa tiếp nhận ảnh hưởng thế giới một cách có bản lĩnh với sự a dua, học đòi một cách mù quáng là thế nào? Nói rằng phải đứng trên cơ sở hiểu biết sâu rộng truyền thống văn hóa dân tộc, kể cả truyền thống văn hóa học phương Đông để tạo cơ sở vững chắc cho sự đổi mới văn học hôm nay có đúng không? Có phải đất nước đang xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là điều không thể khác không? Đó có phải là những điều mà người cầm bút có lương tâm phải suy nghĩ và phải cố gắng góp phần thực hiện không?… Và trước hàng loạt nhiệm vụ cao cả đó, với bản thân bạn, người cầm bút phải thể hiện bản lĩnh như thế nào?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét