Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

CHÙA Ở BẮC NINH

Chùa Bút Tháp - Bắc Ninh


Nằm tọa lạc ở thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Chùa Bút Tháp được xây dựng vào thế kỷ 17 thời Hậu Lê theo kiểu "nội công ngoại quốc", với bố cục gọn gàng và rất sinh động và là một ngôi chùa được tu tạo vào thời nở rộ của những kiến trúc "trăm gian", chùa có quy mô bề thế so với những ngôi chùa cùng thời và hết sức nổi bật trên hai loại chất liệu là gỗ và đá được thể hiện ở trên các chi tiết kiến trúc cũng như trên đồ thờ.

Nhiều người đến với chùa Bút Tháp để được tận mắt chứng kiến vẻ đẹp nguyên sở, cổ kính của ngôi chùa.

Nhiều người đến với Chùa Bút Tháp, không chỉ là thành tâm lễ Phật mà còn để được tận mắt chứng kiến vẻ đẹp nguyên sơ, cổ kính của ngôi chùa.

Nói đến Bắc Ninh, không thể không nói đến Chùa Bút Tháp. Đây là một ngôi chùa cổ, mặc dù đã trải qua những lần trùng tu, sửa chữa nhưng chùa vẫn giữ được những tác phẩm kiến trúc, điêu khắc tuyệt mỹ và nét nguyên sơ hấp dẫn của nó với sự dung hội hai nền văn hoá Việt – Hoa.

Chùa có nhiều tháp, nổi tiếng nhất là tháp Báo Nghiêm cao 13m bằng đá, tám mặt và còn được gọi là Tháp Bút nên chùa có tên là Bút Tháp. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa.

Tượng Phật Bà - Tác phẩm “độc nhất vô nhị” có kích thước lớn và đồ sộ: cao 3,7m, đường kính vành tay 2,24m, có 11 đầu chia làm 4 tầng, 42 bàn tay và 958 tay nhỏ. Điều kỳ lạ là mỗi bàn tay có một mắt, độc đáo hơn nữa là nhịp điệu mỗi cánh tay không giống nhau. Tượng được đặt trên toà sen Rồng đội, đằng sau là vầng hào quang toả sáng, bên dưới là các hình trang trí sóng nước sống động như một thuỷ cung (Tượng do ông họ Trương làm xong vào ngày tốt mùa thu năm Bính Dần - 1656).

Đến với Chùa Bút Tháp, du khách sẽ được chứng kiến những nét độc đáo tài tình của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cổ.

Dưới đây là một số hình ảnh về Chùa Bút Tháp:


Tượng Quan Âm

Tháp Báo Nghiêm


    





Một trong những điểm nổi bật, độc đáo của Chùa Bút Tháp là vẻ đẹp nguyên sơ và những tác phẩm kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật trên hai loại chất liệu là gỗ và đá

  
Rêu phong, cổ kính



Dịp đầu năm mới (sau Tết Nguyên Đán), Chùa Bút Tháp rất đông du khách thập phương về du xuân vãng cảnh.


CHÙA DẠM 

 Thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, Bắc Ninh.

Quy mô to lớn của chùa Dạm đã được nhân gian truyền tụng tới ngày nay nhưng tiếc thay, Đại danh tự thời Lý giờ chỉ còn là phế tích ngập chìm trong cỏ dại.
 

Chùa Dạm nằm trên dãy núi Dạm, còn gọi núi Đại Lãm, thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, Bắc Ninh. Chùa xưa tháp cũ giờ không còn nữa nhưng quy mô nền móng, cột đá chạm rồng, gạch, ngói, đá kè, chân cột... cũng đã khẳng định chùa Dạm là trung tâm Phật giáo, đại danh lam thời Lý. Theo Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí có: Năm Quảng Hựu thứ 1 (1085) Thái hậu Ỷ Lan đi chơi, thấy nơi đây có núi sông cảnh đẹp và có ý muốn xây dựng tháp ở đó. Đến năm Quảng Hựu thứ 2 (1086), vua Lý Nhân Tông cho xây dựng chùa trên núi Đại Lãm. Chùa được triều đình nhà Lý cho xây dựng với quy mô 8.000m2 trong suốt 8 năm liền. Năm 1087, vua đến thăm chùa, thiết yến bầy tôi, thân làm bài thơ Lãm Sơn dạ yến. Năm 1094, chùa làm xong, vua đến thăm và ban tên chữ cho chùa và đến năm 1105 cho xây dựng 3 cây tháp đá ở chùa Đại Lãm. Việc xây dựng có quy mô đồ sộ biểu hiện lòng tự tin đối với cơ đồ độc lập của Nhà nước, mặt khác thể hiện sự đề cao Phật giáo và nhà vua.

Ngôi chùa xưa có quy mô kiến trúc to lớn, với 4 lớp nền giật cấp bám lấy độ cao của núi Dạm. Các lớp nền đều được kè đá tảng lớn để chống xói lở. Các vách đá của các lớp nền cao từ 5-6m, mỗi viên đá rộng 0,50-0,60m. Nối các tầng nền với nhau là các bậc thềm lát đá. Trên các tầng nền có gạch ngói thời Lý hoa văn hình rồng, phượng, sen dây, cúc dây; những chân cột bằng đá (0,75m x 0,75m) chạm nổi những cánh sen rất nghệ thuật. Tại tầng nền thứ hai từ dưới lên (khoảng giữa cửa chùa) có 2 khối đất hình nấm nằm đối diện nhau, đều được kè đá chạm văn hình sóng nước nhô cao (thủy ba). Và khi chùa hoàn thành, huyền tích kể rằng chùa trăm gian cần phải có tới bảy gia đình dưới chân núi chuyên việc đóng mở cửa chùa hàng ngày mà vẫn không xong.

 

Chùa xưa là vậy, còn chùa nay sao hoang vắng, tiêu điều. Vẫn còn đó các lớp nền kè đá tảng. Vẫn còn đó vô số những mảnh gạch ngói hình rồng, phượng, sen, cúc, những chân cột bằng đá nằm chen với cỏ dại. Vẫn còn đó vài tấm bia đá lớn bị sứt vỡ chạm khắc tinh tế hình tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng. Vẫn còn đó sừng sững trên nền trời xanh cột đá khổng lồ, cao tới 5m. Cột đá chạm rồng này gồm 2 phần: phần dưới là khối hình hộp, (cạnh 1,40m x 1,60m); phần trên là khối hình trụ có tiết diện tròn (đường kính 1,30m) được chạm nổi đôi rồng lớn quấn quanh cột, đầu rồng ngẩng cao, miệng ngậm ngọc, chầu vào hình mặt trời tỏa sáng. Đầu rồng có mào, bờm, tóc bay bốc lên cao như ngọn lửa. Thân rồng to, mập uốn khúc quanh cột. Hai chân phía trước của rồng có móng sắc, nhọn, giơ cao nâng viên ngọc dưới cằm. Có thể nói toàn bộ tác phẩm điêu khắc cột đá chạm rồng chùa Dạm thể hiện sức mạnh tổng hợp của vương quyền và thần quyền nhà Lý-triều đại đầu tiên đặt nền móng cho kỷ nguyên dân tộc tự chủ và hưng thịnh về mọi mặt. Hình tượng cột tròn đặt trên bệ nổi hình sóng nước còn là Linga và Yoni, hai sinh thực khí biểu tượng phồn thực trong phật giáo ấn Độ. Đây chính là minh chứng cho sự giao thoa văn hóa giữa văn hóa Chămpa và Đại Việt xưa. Và đây có lẽ cũng là ngôi chùa duy nhất ở miền Bắc có biểu tượng này.

Vẫn còn đó ngòi Con Tên mà tương truyền đã được đào nối liền núi Đại Lãm với sông Đuống để vận chuyển vật liệu xây dựng chùa Dạm. Ngòi Con Tên giờ vẫn còn tuy không thông với sông nữa nhưng vẫn tạo thế núi, thế sông tuyệt mỹ cho ngôi chùa.

Nhưng thời gian không đợi ai cả. Đại danh tự một thời nay đã là phế tích. Một ngôi chùa nhỏ bé, liêu xiêu được người dân dựng trên nền đổ nát. Một người vãi già mang gạo của nhà tới ở trong căn lán dựng tại vườn trước để trông nom chùa. Bà Quyến tâm sự: "Tôi vừa rẫy hết đám cỏ dại trùm hết ba nền và tường đá. Còn rất nhiều việc phải làm để cảnh quan chùa gọn gàng hơn. Tôi mong có ngày, những người hảo tâm sẽ công đức dựng lại chùa, dù chẳng được như xưa thì cũng khang trang hơn nay".

Mỗi tháng bà Quyến nhận được khoảng 150.000 đồng tiền công chăm nom chùa. Số tiền chỉ đủ cho bà rau dưa hàng ngày, còn hàng tháng con bà vẫn phải mang gạo lên tiếp tế. Nhưng tôi vẫn nhận thấy rõ niềm tin, niềm vui và lạc quan trong ánh mắt của người vãi già, trong công việc nhổ cỏ, quét dọn của bà mỗi ngày, dù dường như cỏ dại mọc quá nhanh so với sức vóc nhỏ yếu của bà. "Tôi tin lắm. Đã có nhiều vị sư về đây hứa sẽ trở lại dựng chùa. Tôi tin các vị ấy sẽ làm được điều đó".

 
CHÙA DÂU 

Tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km.

Chùa Dâu tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa có nhiều tên gọi: Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự. Nơi đây là trung tâm thành cổ Luy Lâu từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.

Có câu thơ lưu truyền dân gian:

 
"Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về,
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu"

Theo ghi chép trong sách sử và bia đá, đây là ngôi chùa Phật giáo cổ nhất Việt Nam, là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ Ấn Độ sang, một từ phương Bắc xuống. Chùa được xây dựng từ thế kỉ thứ 2 (khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226) dưới thời Sĩ Nhiếp làm thái thú. Chùa Dâu thờ nữ thần Pháp Vân nên gọi là chùa Pháp Vân và nằm trong vùng đất Cổ Châu nên cũng gọi là chùa Cổ Châu. Chùa gắn liền với truyện cổ tích Tứ pháp của người Việt xưa.

Vào đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu Đà La, đã tới Dâu – tức Luy Lâu tiến hành truyền bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu – trung tâm Phật giáo lớn nhất và cổ xưa nhất của Việt Nam. Chùa tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài, cung điện, lầu gác, phố chợ sầm uất của đô thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là trung tâm trong hệ thống các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt. Chùa Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì ni đa lưu chi – Thiền phái đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.

 
Tiền đường Chùa Dâu

Kiến trúc chùa Dâu còn đến ngày nay được dựng dưới thời Trần năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Bao quanh tòa điện chính hình chữ công là những dãy nhà ngang, nhà dọc vây kín theo kiểu nội công ngoại quốc.
 
Tháp Hòa Phong
 
Chính giữa sân chùa trước bái đường, Mạc Đĩnh Chi đã cho dựng ngôi tháp Hòa Phong cao chín tầng, nay chỉ còn ba. Ngôi tháp vuông xây bằng gạch trần, dáng chắc khỏe nổi bật giữa khung cảnh xung quanh. Tháp tượng trưng cho ngọn núi vũ trụ, bốn góc tháp có bốn tượng Thiên vương trấn giữ, trên tháp treo một khánh đồng cổ.
 

Ban thờ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi

  
Thượng điện nhìn từ bên ngoài

Tháp Hòa Phong Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ "Hòa Phong tháp". Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Từ "Hoà Phong" có nghĩa là ngọn gió mát mẻ, tốt lành.
 


    

Trong tháp có treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương - 4 vị thần trong truyền thuyết cai quản 4 phương trời- cao 1,6 m ở bốn góc

 

Con cừu đá

Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Điều này làm ngạc nhiên nhiều du khách, bởi xưa kia nước Việt không có con cừu. Truyền sử kể rằng: vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của cả nước ta, có vị sư người Tây Thiên sang nước ta tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến lăng Sĩ Nhiếp (thái thú Giao Chỉ thời đó), dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ. Do vậy hiện nay chùa Dâu có 1 con,  lăng Sĩ Nhiếp (cách đó 3 km) có 1 con.

Trải qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn tại với thời gian. Lịch sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Chùa là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia.


Chỉ dẫn đường đi: Cùa Dâu nằm trên địa phận xã Thanh Khương - Thuận Thành - Bắc Ninh. Có thể tới chùa bằng nhiều đường, tuy nhiên đường ngắn nhất tính từ trung tâm TP Hà Nội là: Cầu Chương Dương- Đường Nguyễn Văn Cừ - Cầu Chui - đường QL 5 - tỉnh lộ 181 - Dương Xá ( Gia Lâm ) - Phú Thị ( Gia Lâm ) - Thuận Thành - Phố Dâu - Chùa Dâu.

 

Tiền đường của chùa Dâu


18 vị La Hán trong chùa

 
Hậu điện phía sau chùa chính
      
 
Các pho tượng Bồ Tát, Tam Thế, Đức Ông, Thánh Tăng được đặt ở phần hậu điện sau chùa chính
      
 
Gian thiêu hương đặt tượng Cửu Long, hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam Châu Thái tử
      
 
 
Thăm Chùa Dâu
 
 
CHÙA PHẬT TÍCH

Không chỉ là cái nôi của Phật giáo Việt Nam, chùa Phật Tích (Bắc Ninh) còn lưu giữ nhiều báu vật quốc gia...
 

Chùa Phật Tích, tên hiệu là Vạn Phúc tự nằm ngang chân núi Tiên Du (xã Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh). Phật Tích giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, là nơi đầu tiên Phật giáo Ấn Độ truyền vào nước ta. Chùa được khởi xây vào thời Lý, và được xây lại nhiều lần nhưng đến năm 1947 thì bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn. Năm 1954 đến nay, chùa dần được khôi phục.
 

Hai bên đường lên là hàng thú đá gồm ngựa, trâu, tê giác, voi, sư tử quỳ trước cửa chùa. Những linh vật này được tạo trong thế chầu phục với ẩn ý sâu xa quy phục Phật pháp.

 

Trong khuôn viên di tích, vẫn còn lưu giữ những bức tường đá được xếp chồng lên nhau.
 

Năm 1057, nhà Lý cho dựng ở đây một tháp rất cao. Tuy nhiên, do bị tàn phá nên hiện khu vực này chỉ còn lại chân tháp nằm trên một diện tích rộng hàng chục mét vuông. Dựa vào móng này, người ta ước tính ngọn tháp cao khoảng 42 mét.
 

Việc trùng tu ngôi tháp cổ này nằm trong tổng thể dự án trùng tu chùa Phật Tích - di tích văn hóa lịch sử đặc biệt quan trọng của Quốc gia, với tổng dự toán khoảng 35 tỷ đồng, hoàn thành vào năm 2010.

 

Tương truyền, khi ngọn tháp này đổ, lộ ra một pho tượng Phật A Di Đà (cao 1,85 mét) bằng đá xanh làm từ thời Lý lớn nhất Việt Nam. Hiện, đây được coi là báu vật quốc gia và các bảo tàng lớn đều phiên bản bức tượng này để trưng bày.
 
 
Hiện, chùa Phật Tích còn có cả chục ngôi bảo tháp của chư Tổ, chư Tăng đã viên tịch.
 
Những tòa tháp bằng đá, rêu phong cổ kính.
 

 
Cuối năm 2005, Quan Âm Viện nằm trong khuôn viên chùa được xây dựng.
 

 
Còn trên đỉnh núi, việc thi công pho tượng Phật bằng đá cao 27 mét được cho là lớn nhất Việt Nam đang được gấp rút hoàn thành.
 

 
Riêng bệ và đài sen của bức tượng đã có độ cao cả chục mét.
 

 
Dự kiến, năm 2010, pho tượng khổng lồ này sẽ được hoàn thành và có hình dáng như trong bản phối cảnh treo tại chùa.
 

 
Còn hiện giờ, nhìn từ xa, trên đỉnh núi, hình hài của bức tượng này đang dần hiện rõ.
 
Tháp mộ Lý Khánh Văn ở chùa Kim Đài
 
Chùa Kim Đài (còn gọi là chùa Đài, chùa Quỳnh Lâm (Quỳnh Lâm tự), chùa Lục Tổ) là một ngôi chùa tại xóm Xuân Đài, làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tương truyền, Lý Công Uẩn, người sáng lập triều Lý Việt Nam, lúc nhỏ từng là một chú tiểu tại chùa này.
 
 Chùa được xây từ thế kỉ 8. Đến thế kỉ 9, thiền sư Định Không mở rộng chùa, đặt tên chùa là Quỳnh Lâm tự, cho tạc khánh bằng đá.[1] Thời nhà Lý, đây là một trong những ngôi chùa to và đẹp nhất, là nơi thờ cúng Phật của các quý tộc nhà Lý. Khánh đá chùa Quỳnh Lâm nổi tiếng là to. Sang thời Trần, chùa không còn được quan tâm nên xuống cấp dần.
Thời nhà Minh xâm lược Việt Nam (1407-1427), chùa bị tàn phá nghiêm trọng. Mãi cho tới thời Lê Mạt, năm thứ 22 niên hiệu Chính Hòa (tức năm 1701), quận chúa Nguyễn Thị Ngọc Long là vợ chúa Trịnh Căn mới cho xây lại chùa khang trang như ngày nay. Nhân lúc đó chùa có 6 pho tượng lục tổ (6 vị trụ trì đầu tiên của chùa), nên đổi tên thành chùa Lục Tổ.[2] Thời Nguyễn, chùa bị thu nhỏ lại.[3] Năm 1952, quân Pháp đã đốt trụi tòa tam bảo và nhà khách của chùa. Ngày nay, chùa là nơi tu hành của các ni.


Trong chùa có điện Tam Bảo, nhà thờ tổ, nhà thờ mẫu, hậu cung. Trong nhà thờ tổ có tượng các vị tổ của chùa, điện thờ bà Nguyễn Thị Ngọc Long. Điện tam bảo là nơi thờ Tam Thế, Thích Ca, Di Lặc, A-di-đà, Thập Điện Diêm Vương. Chùa còn thờ cả thiền sư Lý Khánh Văn và bà Phạm thị, mẹ của Lý Công Uẩn. Tháp mộ Lý Khánh Văn mới được phục dựng vào năm 2000.
Chùa rộng chừng 2 mẫu, có ao, có vườn cây[4], ruộng cấy lúa. Tuy nhiên, các ruộng và ao đã bị chính quyền xã thu hồi. Không gian của chùa cũng bị các nhà dân cao tầng xung quanh lấn át. Tháp mộ Lý Khánh Văn đáng lẽ trong khuôn viên của chùa, nay thành ra ở ngoài chùa.
Thời tiền khởi nghĩa, chùa là một cơ sở cách mạng của những nhà cách mạng Cộng sản Việt Nam. Thời Chiến tranh Đông Dương, đây là một cơ sở qua lại bí mật của lực lượng du kích, bộ đội địa phương


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét