| 12.05.2010 | |
| Trần Mạnh Tiến | |
| Lan Khai, Nhà văn hiện thực xuất sắc (1) | |
LỜI GIỚI THIỆU
Với
cuộc đời chưa tròn bốn mươi tuổi, để lại một di sản lớn về văn học, Lan
Khai là một trong những nhà văn sung mãn nhất của nền văn học Việt Nam
hiện đại. Ông dường như sinh ra để làm tiểu thuyết giữa thời kỳ cách tân
văn học mạnh mẽ nhất ở thế kỷ XX. Nhìn từ tiềm năng sáng tạo, đương
thời nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Lan Khai là lão tướng trong
làng tiểu thuyết đang gắng tìm đường mới”[1].
Cùng
với những tài danh của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại (1930 - 1945) như
Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nhất Linh,
Khái Hưng, Thạch Lam, Vũ Bằng, Nam Cao... Lan Khai là nhà văn đã sớm tìm
cho mình một hướng đi riêng, để góp mình cho nền tiểu thuyết tương lai.
Đương thời, sự xuất hiện cây bút Lan Khai trên văn đàn là một hiện
tượng đặc biệt từ nguồn gốc xuất thân đến hoạt động văn chương.
Với
những truyện đường rừng, những tiểu thuyết tâm lý - xã hội, các tiểu
thyết lịch sử, những thiên truyện ngắn và ký, lối tư duy sắc bén trong
lý luận, phê bình và nghiên cứu, các công trình sưu tầm văn học, cùng
năng lực dịch thuật tài hoa và những tác phẩm hội họa, đã đem đến cho
nền văn nghệ dân tộc những màu sắc mới. Tất cả làm nên bức chân dung rõ
nét về một nghệ sĩ giàu tiềm năng sáng tạo. Tên tuổi của ông từng vang
bóng một thời trên văn đàn cả nước, nhưng hoạt động nghiên cứu về cuộc
đời và sự nghiệp của Lan Khai hơn nửa thế kỷ qua vẫn chưa toàn diện và
hệ thống. Chúng ta không khỏi băn khoăn: Vì sao những tác gia nổi tiếng
cùng thời như Trương Tửu, Trần Huy Liệu, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan, Thiều
Quang... đã đề cao những sáng tác của Lan Khai; một số cây bút sau này
lại nhìn nhận sai lệch về ông? Trên đường đi tới tổng kết những thành
tựu văn nghệ của thế kỷ XX, từ cái nhìn khách quan, chúng ta sẽ thấy rõ
những đóng góp to lớn của nghệ sĩ Lan Khai trong tiến trình phát triển
của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Như
bao anh hoa tài thức trong lịch sử, mỗi con người đều có số phận riêng,
cuộc đời của nghệ sĩ Lan Khai có thể xem như con thuyền nhỏ đi trên
dòng thác lớn để tìm về bến đỗ. Dẫu biết rằng: “Tài hoa... cái lụy ngàn
đời”, nhưng bước vào cái “nghiệp chướng văn chương” ông vẫn đi đến cùng
trên con đường sáng tạo. Vì vậy những tác phẩm của Lan Khai là những
đóng góp mới cho đất nước. Kỷ niệm lần thứ 100 năm ngày sinh của Lan
Khai chúng ta cùng trở lại những chặng đường đã qua của người nghệ sĩ
suốt đời say mê làm ra cái đẹp để dâng hiến cho đời.
I. Vài nét về thời đại, quê hương, gia đình và cuộc đời nghệ sĩ
Nhà
văn Lan Khai tên thực là Nguyễn Đình Khải còn có các bút danh: Huệ
Khai, Thục Oanh, Lâm Tuyền Khách, Lan, ĐKG… sinh ngày 24 tháng 6 năm
1906 tại Bản Luộc xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Thân
phụ là Nguyễn Đình Chức (còn gọi cụ Lang Chức) sinh năm Canh Ngọ (1870)
nguyên quán ở tỉnh Thừa Thiên - Huế. Cha ông là nhà Nho kiêm lương y.
Thuở nhỏ, Nguyễn Đình Chức được song thân cho theo học chữ Nho và nghề
thuốc gia truyền. Sống trong cảnh nước mất, Nguyễn Đình Chức cùng hai
anh Nguyễn Đình Cả và Nguyễn Đình Liên hưởng ứng chiếu Cần vương ra Bắc
tham gia vào nghĩa quân Hương Khê (Hà Tĩnh). Cuộc khởi nghĩa kết thúc
(1895), thực dân Pháp ra lệnh truy nã những người khởi nghĩa, ba anh em
phải hành trình lên thượng nguồn Việt Bắc, từ sông Hồng đến sông Lô rồi
sông Gâm, tìm nơi nương náu đợi thời. Người anh thứ nhất lấy tên là
Hoàng Đình Cả, anh thứ hai đổi thành Bàn Văn Liên, người em út cải là Ma
Đình Chức. Người anh cả làm nghề nông tại thôn Hoàng Pháp thuộc tổng
Trung Môn (ngoại vi tỉnh lị Tuyên Quang); người anh thứ hai làm nghề dạy
võ và chữ Nho tại chân núi Cố làng Xuân Hòa trong tỉnh lị. Còn Nguyễn
Đình Chức một mình lặn lội lên châu Chiêm Hóa thuộc lưu vực sông Gâm
cách tỉnh lị về phía Đông Bắc chừng 70 km, chàng trai ấy được cộng đồng
các dân tộc thiểu số che chở, rồi được một gia đình họ Lỗ ở bản Luộc cho
chung sống trong nhà. Gia đình họ Lỗ có một người con gái đẹp người đẹp
nết tên là Lỗ Thị Thục sinh năm Canh Thìn (1880). Mối tình của chàng
trai xứ Huế với cô gái xứ Tuyên dần dần nhen nhóm. Cảm mến về đức tài
của chàng trai nghĩa dũng, gia đình họ Lỗ và thôn bản đã làm lễ kết hôn
cho đôi trai tài gái sắc đó. Một thời gian sau họ dựng cho đôi vợ chồng
trẻ một căn nhà nhỏ ba gian; lưng tựa vào chân núi, cửa nhìn về phía tả
ngạn có trái núi Thần soi mình xuống dòng sông Gấm. Ngày ngày, thầy đồ
Chức ngồi dạy chữ thánh hiền cho con em thôn bản và trị bệnh cứu người,
còn người vợ một mình lặn lội trong rừng sâu tìm cây thuốc quí. Tiếng
lành đồn xa khắp trong vùng. Lỗ Thị Thục lại là người phụ nữ thuộc nhiều
ca dao và truyện cổ dân gian, thích hát Then, hát Lượn. Sau này trong
các trang tự truyện Lan Khai nhiều lần nhớ về người mẹ “có một dung nhan
vô cùng êm ái... với đôi mắt bình tĩnh và thăm thẳm, với cái nụ cười nó
làm cho những vật xung quanh như tươi sáng hẳn lên”[2].
Về
người cha, nhà văn từng kể lại: “Cha tôi là một ông nhà Nho kiêm nghề
lương y, tính thích uống rượu ngâm thơ và rất yêu say cảnh núi sông, hoa
cỏ”[3].
Nhà Nho ấy là người từng trải, có vốn văn hóa uyên thâm và một tâm hồn
phóng khoáng, sự nghiệp không thành đến nương mình ở chốn lâm tuyền.
Ngôi nhà tranh nhỏ bé một thời từng là nơi dừng chân cho những bậc quốc
sĩ trước khi xuất dương tìm đường cứu nước. Qua nhiều lần sinh nở gian
nan, ông bà cho ra đời hai người con: Nguyễn Đình Khải (1906) và Nguyễn
Thị Tuyết Nhung (1908). Cùng năm sinh đứa con đầu lòng, nghe Kinh Kỳ có
Hội Duy Tân, ông đồ Chức lại xuôi dòng về tham gia vào Đông Kinh Nghĩa
Thục. Sau một thời gian ngắn, thực dân Pháp đàn áp, Học hội tan rã, ông
trở về xứ lâm tuyền cùng người vợ toàn tâm vào sự nghiệp cứu nhân độ
thế. Hai vợ chồng đều tôn thờ Phật giáo. Thời thơ ấu, Lan Khai lớn lên
trong một gia đình yêu cái đẹp và cái thiện cùng với môi trường sinh
thái thiên nhiên hào phóng, sống gắn bó với cộng đồng các dân tộc thiểu
số nhân hậu, thủy chung.
Tuyên
Quang là một địa danh từ lâu đời nổi tiếng về tài nguyên thiên nhiên
phong phú, khí hậu mát mẻ, là nơi có nhiều người đẹp và phong cảnh đẹp.
Sách “Dư địa chí” (Nguyễn Trãi), “Đại đồng phong cảnh phú” (Nguyễn
Hàng), “Hoàng Việt địa dư chí” (Phan Huy Chú), “Đại Nam Nhất thống chí”
(Sử quán triều Nguyễn), “Tuyên Quang tỉnh phú” (Đặng Xuân Bảng), “Bài ký
phong thổ tỉnh Tuyên Quang” (Nguyễn Văn Bân) v.v… đều cho thấy ưu thế
của mảnh đất này về phong thổ và sản vật. Địa danh Chiêm Hóa có từ thời
nhà Nguyễn, thời Lý - Trần có tên là châu Vị Long, thời Hậu Lê có tên là
châu Đại Man. Từ xa xưa, đất Vị Long được các triều đại xem như một vị
thế quan trọng, quan hệ mật thiết với vận mệnh của vương triều. Văn bia
chùa Bảo Ninh Sùng Phúc từ thời Lý đã nói lên điều đó, trong bài Minh có
những câu:
Bốn mươi chín động
Truyền mười lăm đời
Non sông giữ vững
Nhân ái giúp thời…
Đất không bụi bậm
Sương núi mịt mùng
Người giỏi ra đời
Đạo thời thống nhất
(Đỗ Văn Hỷ dịch)
Nơi
đây có cộng đồng các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Dao
Tiền, Đại Bản, Hà Nhì, Pà Thẻn, Cao Lan... sống hòa hợp gắn bó từ lâu
đời trong tiến trình lịch sử. Từ đây có đường sang Bắc Cạn, đi Cao Bằng,
lên Hà Giang, sang Yên Bái và đường sông đi ngược về xuôi. Cái xứ sở mà
Lan Khai cho rằng: “Phần nhân tạo luôn luôn có cơ bị lấn bởi phần thiên
nhiên bao bọc tứ phía mà cái màu xanh xanh bất diệt không những thôi cả
sang quần áo dân bản thổ lại còn ánh lên da mặt kẻ ngụ cư nữa”[4].
Đây cũng là nơi có nhiều phong tục tập quán lâu đời, nhiều làn điệu dân
ca, các truyền thuyết và nhiều sự kiện lịch sử với các sinh hoạt văn
hóa dân gian phong phú của đồng bào các dân tộc thiểu số, đã lưu giữ
nhiều kỷ niệm đẹp đẽ trong tâm hồn người nghệ sĩ Lâm Tuyền Khách sau
này. Tại ngôi nhà nhỏ bên rừng, khi lên ba tuổi cậu bé Khải đã được
người cha truyền dạy cho những con chữ thánh hiền đầu tiên trong Tam
Thiên Tự, lên năm tuổi đã xuất hiện năng khiếu về hội họa. Năm lên sáu
Khải được cha mẹ cho đến Trường tiểu học của châu lị Chiêm Hóa, người
dạy chữ Quốc ngữ đầu tiên ở xứ sở lâm tuyền là nhà giáo Nguyễn Văn Bảng
từ miền xuôi tới. Thầy rất yêu trò Khải và đặt mọi kỳ vọng vào đứa trẻ
thông minh ham học đó. Trong tập Bút ký sau này Lan Khai đã hồi ức lại
lời dặn dò cốt tủy của thầy- một nhà giáo yêu nước rất coi trọng Quốc
văn, khi anh trở lại thăm nơi chôn nhau cắt rốn, thầy đã chọn câu nói
nổi tiếng của một danh sĩ Pháp khắc sâu vào lòng Khải: “Một dân tộc dù
mất quyền tự do, dù nô lệ mà còn giữ được tiếng nói tức là còn giữ được
cái lợi khí tháo cũi, xổ lồng cho mình”[5]. Câu nói đó đã trở thành máu thịt suốt cuộc đời của nghệ sĩ Lan Khai.
Vào
một buổi sáng mùa thu năm 1914, hai anh em Khải, Nhung theo cha mẹ xuôi
dòng về khu phố Xuân Hòa thuộc tỉnh lị Tuyên Quang tới nơi ở mới. Đó là
một ngôi nhà lá gồi năm gian hai chái, lưng dựa vào núi Cố, mặt hướng
về phía sông Lô gần với ngôi đình Xuân Lôi, tiếp với khu mỏ than chạy
dọc bờ sông, đối diện bên tả ngạn là mỏ kẽm Chàng Đà. Thực dân Pháp đã
tiến hành khai thác các khoáng sản từ những năm đầu thế kỷ XX (1905).
Gia đình ông lang Chức nằm giữa khu thợ thuyền và phu mỏ. Tại đây ông bà
tiếp tục làm nghề cứu nhân độ thế. Vào những lúc khó khăn bà phải “bồng
bềnh xuôi ngược” mua bán sơn hào ở các ngọn sông. Thời niên thiếu cho
đến lúc trưởng thành, Nguyễn Đình Khải đã chứng kiến bao nỗi lầm than
của cuộc đời người thợ. Về tỉnh lị, Khải được theo học thầy đồ Nguyễn
Văn Khoan, thầy là một người “tính tình thẳng như gióng trúc nhưng rất
nhân từ” (Thầy đồ tôi) và tiếp tục theo học trường tiểu học của thầy
Quốc Cừu với ông Đốc Điện. Đây là những nhà giáo giàu tâm huyết. Khải là
một học trò thông minh, tinh nghịch, ham đọc sách, vượt trội bạn bè về
Hán văn, Pháp văn và toán Pháp, đặc biệt về năng khiếu hội họa ngày càng
lộ rõ, mười hai tuổi đã có thơ kèm tranh vẽ tặng mọi người.
Chính
người mẹ đã truyền cho ông cái kho tàng văn học dân gian phong phú và
người cha đã truyền cho ông cái kho sách thánh hiền với các tri thức về
văn hoá và lịch sử nước nhà. Khi trở thành nhà văn nổi tiếng trên văn
đàn, Lan Khai đã tự bạch về những ngày thơ ấu: “... Không một ngày nào,
những khi mẹ con được gần gũi hú hý với nhau, mà mẹ tôi lại đã không kể
cho tôi nghe ít nhất là một sự tích về cái thời mà Bụt còn năng hiện
xuống trần để can thiệp vào nhân sự, hoặc cái lai lịch não nùng của bà
Chúa Ba, hoặc sự tu kiên quyết của bao kiếp luân hồi của Phật tổ? Mẹ tôi
kể bằng một giọng chìm chìm, bí mật và đầy thi vị, trong khi một vẻ mơ
màng say đắm hiện long lanh trong hai mắt mẹ tôi... Ngồi nghe mẹ kể tôi
đã sống hiển hiện cuộc đời các nhân vật lạ lùng của những chuyện cổ tích
ấy”[6].
Với người cha, ông cũng hồi ức lại: “Thầy tôi còn hay kể cho tôi nghe
những chuyện về Thúy Kiều, về Chiêu Quân, những tích rút ở Tình sử và
Liêu Trai...”[7]. Có thể thấy thời thơ ấu của Lan Khai sống trong một cái nôi văn hoá đẹp và một không gian chứa nhiều cảm xúc.
Tỉnh
lị Tuyên Quang nằm ở khu đồng bằng hữu ngạn sông Lô, thuộc xã Y La,
huyện Yên Sơn ngày nay (tức phía Nam huyện Phúc Yên xưa) có nhiều danh
lam thắng cảnh, với các di tích đền chùa đình miếu, thành quách, nơi
tiềm tàng nhiều sự kiện lịch sử cùng các truyền thuyết từ thời đại Hùng
Vương. Trong Thần Phả ngôi đền Ông ở huyện Phúc Yên xưa có đoạn viết:
“Đây là xứ sơn kỳ thủy tú, vạn vật phong phú tốt tươi, sơn hào vô tận,
ruộng nhiều lúa chín, đất nở đầy hoa, chim kêu vượn hót; mặt người tươi
đẹp, thuốc quí tiềm tàng, không gì là không có, nhờ khí hạo nhiên”[8].
Người dân xưa có nghề nông phu, sơn tràng, chài lưới, mộc, rèn, đan
lát, buôn bán sơn hào hải vị và canh cửi. Các vương triều trong lịch sử
xem Tuyên Quang là nơi tiềm tàng của cải và là vùng phên dậu thứ ba của
đất nước. Văn bia thành Tuyên có đôi câu đối:
An Biên bách thế lưu kim ngọc
Tuyên thành vạn cổ án Thăng Long
Nghĩa là:
An Biên muôn thuở lưu vàng ngọc
Thành Tuyên mãi mãi chắn Thăng Long
Nơi
đây đã trải qua các biến cố lịch sử dữ dội như cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên thế kỷ XIII, chống quân Minh thế kỷ XV, đuổi quân Thanh thế
kỷ XVIII; khởi nghĩa của Nùng Văn Vân đầu thế kỷ XIX; giặc Cờ Đen cuối
thế kỷ XIX... Tất cả đã để lại dấu ấn không mờ trong tiềm thức của nhân
dân. Từ đó về sau đã soi vào những trang viết của Lan Khai.
Xưa những nhà Nho[9]
tiết tháo không may rơi vào cảnh đường đời gió bụi, lánh đục về trong
đã tìm đến nơi sơn kỳ thủy tú nương mình, họ đã để lại những vần thơ câu
phú tươi xanh về xứ sở lâm tuyền cho hậu thế. Nơi đây còn lưu giữ được
các ký ức xa xưa về danh nhân ẩn sĩ Nguyễn Hàng cùng những bức tranh xứ
sở trong “Tịch cư ninh thể phú”, “Đại Đồng phong cảnh phú”, “Tam Ngung
động phú” của ông. Trong bài “Đại Đồng phong cảnh phú” có đoạn viết:
Đặc khí thiêng liêng
Nhiều nơi thanh lạ...
Xem phong cảnh chỉn đà khác thường
Gẫm tạo vật thật đà có ý[10].
Tất
cả đã khơi dậy trong tâm hồn người nghệ sĩ để lại những trang viết sau
này. Từ xa xưa, nơi đây cũng được xem là mảnh đất linh thiêng và thơ
mộng qua bài Sấm Ký bằng chữ Hán khắc trên tấm bia đá từ thế kỷ XVIII
tại chùa An Vinh, nơi khơi nguồn cho những cảm hứng thi ca thể hiện sâu
lắng trong những vần thơ của một vị thiền sư - thi sĩ:
Thế đất long xà lựa được nơi
Cảnh quê ngày rộng trải niềm vui
Khi nhàn ngồi ngắm non cao vút
Gió mát trăng trong ánh rực trời2
Đền Hạ Tuyên Quang cũng là một di sản văn hóa lâu đời của đất nước, qua bài Từ Đền Hạ([11])cho
hay một bức tranh hài hòa sơn thủy, giữa chốn linh thiêng với lòng
người và cái nhìn có chiều sâu lịch sử của cha ông qua một bài thơ:
Phía trước là dòng sông Lô
Phía sau là dãy núi Là tôn nghiêm
Ngàn năm sừng sững ngôi đền
Lòng dân ôm mãi nước non trong mình
Từ
một bản nhỏ thâm u bên bờ sông Gâm đến vùng đất tỉnh lị bên bờ sông Lô,
đi suốt chiều dài tuổi thơ của một cậu học trò, Nguyễn Đình Khải đã lớn
lên trong môi trường thiên nhiên linh thiêng và thơ mộng. Khi đã thành
một học sinh Trường Bưởi và sinh viên Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông
Dương, cũng như khi đã có một tổ ấm gia đình, là một anh đồ Khải, cái
chất đường rừng với cái men nghệ sĩ đã đưa bàn chân anh hành trình khắp
đó đây, từ núi rừng Việt Bắc đến các buôn sóc Tây Nguyên xa xôi. Ở con
người ấy lại có sở trường dễ hoà nhập với phong tục và ngôn ngữ của mọi
vùng miền đất nước, luôn có thói quen ghi chép những biến thái quanh
mình; có khi là một bài dân ca, một câu chuyện cổ, một gương mặt đẹp,
một bông hoa lạ, một tiếng suối reo... thành những bức tranh hay trang
viết sau mỗi cuộc hành trình.
Năm
17 tuổi, Nguyễn Đình Khải theo học Trường Bưởi, đây là bước ngoặt của
cuộc đời người học trò xuất thân từ xứ sở áo chàm, hòa mình vào cuộc
sống đô thị để trau dồi kiến thức, phát triển tài năng, mở rộng tầm nhìn
và có thêm những quan hệ mới. Là một học sinh có ý chí tự do, khóa học
đến kỳ kết thúc thì nổ ra cuộc biểu tình và bãi khóa của học sinh, sinh
viên ở Hà Nội vì tự do dân chủ (đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan
Châu Trinh), tham gia tổ chức phong trào đó, Khải bị nhà cầm quyền thực
dân bắt giữ và đuổi học qui tội “dính líu vào quốc sự”. Thời gian này
Khải có mối tình với một người thiếu nữ đẹp tên là Nguyễn Thị Duyên
(1909-1982) nguyên quán tỉnh Sơn Tây, cuộc tình đã “trót dở dang”, nhưng
hai người khác nhau về tôn giáo, nên chỉ được cha mẹ cho sống với nhau
và không thành hôn lễ. Rời Trường Bưởi, Khải lại tiếp tục thi vào Trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương để học lên, nhưng rồi phải bỏ học giữa
chừng vì “bên mình lúc nào cũng kè kè mật thám”. Cũng thời gian này
Nguyễn Đình Khải có dịp làm quen và gắn bó với thi sĩ Tản Đà và cây bút
văn xuôi mới Hoàng Tích Chu[12].
Năm
1927, Khải trở về quê hương, chính thức kết hôn với thiếu nữ Hà Thị
Minh Kim - con một gia đình khá giả sống lâu đời ở tỉnh lị Tuyên Quang,
là một người nổi tiếng về nhan sắc, được học hành, thông minh và có biệt
tài về trí nhớ, giỏi thêu thùa đan lát, sống nhân hậu thủy chung, được
nhiều người nể trọng, từng “mến mộ anh chàng học sinh Trường Bưởi, đẹp
trai hiền hậu, học giỏi vẽ tài và sinh ra trong một gia đình nhân
đức”(12). Hai gia đình đã có ý tác thành từ trước. Sau khi biết rõ cuộc
tình đầu tiên của chồng với người phụ nữ vương “sự dở dang”, bà đã tự
mình đi đón người phụ nữ mang bầu sáu tháng đó ở Hà Thành về Tuyên sống
với mình, rồi lại thay chị nuôi dưỡng Lan Hương[13]
khi đứa trẻ mới chào đời, do người mẹ của Lan Hương lâm sản nạn. Hai
người phụ nữ đó đã gắn bó với cuộc đời văn nghiệp của nghệ sĩ Lan Khai
gần hai mươi năm. Họ đã đùm bọc nhau suốt hơn năm mươi năm kể cả “những
lúc lầm than nhất”.
Bà
Hà Thị Minh Kim vừa lo tổ chức đời sống gia đình vừa là người “trợ bút”
đắc lực cho Lan Khai trong nhiều trang viết. Thời gian sống ở Hà Thành,
đôi khi bà lại cùng chồng tham gia vào những vở diễn khi nhà hát cần
người. Bà luôn bám sát sự sống của Lan Khai ngay cả khi ông bị giam cầm
tù tội. Vì thế chân dung của người phụ nữ thảo hiền này xuất hiện ở
nhiều trang tự truyện của Lan Khai. Đồng thời bà cũng là người lưu giữ
được nhiều nhất những ký ức về cuộc đời văn nghiệp của Lan Khai cùng
những kỷ niệm về các văn nghệ sĩ Bắc Hà một thời đáng nhớ. Bà đã ghi
chép lại thành tập “Ký ức Hà Thành - Truyện lầm than của chúng tôi”.
Tại
quê nhà, Khải vừa dạy học, viết văn, say mê vẽ và bồi đắp thêm những
kiến thức về y nghiệp, rồi liên tục hành trình trong thế giới sơn lâm.
Hai
bà quả phụ còn kể lại: “Những ngày trời đẹp, anh thường một mình mang
theo giấy bút và giá vẽ vào sâu trong rừng để vẽ tranh, hoặc thăm thú bà
con thôn bản”. Khải đam mê vẽ tranh phong cảnh, thích sưu tầm văn học
dân gian, làm thơ về quê hương về tình bạn tình yêu. Được chứng kiến tận
mắt cuộc sống lầm than của những người phu mỏ đến những cảnh đời cơ cực
của đồng bào trong một xã hội đầy bóng tối, Nguyễn Đình Khải đã quyết
định từ bỏ cái y nghiệp của tổ tiên để “làm một nhà tiểu thuyết”. Là
người có thú chơi sách, “anh đã lập cho mình một thư viện lớn ngang bằng
nhà sách ở phố Hàng Bông thời bấy giờ, gồm các loại sách báo cổ, kim,
Đông, Tây với tên tuổi các tác gia văn học, triết học và sử học nổi
tiếng trên thế giới. Anh say mê tự học, đọc thông thạo Tân Thư bằng chữ
Hán và các sách báo phương Tây bằng tiếng Pháp, biến nguồn tư liệu đó
thành kho tri thức cho mình. Anh đam mê khảo cứu phong tục tập quán và
ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở các vùng miền đất nước. Hàng ngày anh
luôn tỏ ra tiếc thì giờ, dồn mọi tâm chí vào tự học”[14]. Vì thế vốn tri thức của Nguyễn Đình Khải rất sâu rộng, được nhiều trí thức đương thời nể trọng.
Cuốn
“Nước hồ Gươm” ra đời vào mùa thu năm 1928 với bút danh Nguyễn Lan Khai
cũng là lúc bà Hà Thị Minh Kim sinh đứa con đầu lòng đặt tên là Nguyễn
Đình Phượng (sau đổi thành Nguyễn Lan Phương). Là người say đắm hoa lan,
lại nhớ về niềm ước vọng xa xưa của mẹ và một tình rừng tha thiết, bút
danh Lan Khai (hoa lan nở) ra đời gắn với từng thiên tiểu thuyết. Lần
lượt tên của bốn người con trai nhà văn được gắn với đặc tính của loài
hoa đẹp nhất: Lan Hương, Lan Phương, Lan Hoa, Lan Diệp. Cũng năm này Lan
Khai khai bút cuốn Cô Dung, mười năm sau mới có dịp in thành sách, ông
ghi vào trang trước: Kính tặng hương hồn mẹ!
Cuối
năm 1928, được sự giới thiệu của nhà giáo yêu nuớc Phạm Tuấn Tài, Lan
Khai gia nhập Quốc dân Đảng, do lãnh tụ Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Ông là
Ủy viên ban chấp hành của Đảng. Sau một thời gian ngắn thực dân Pháp ra
tay đàn áp, các lãnh tụ của Đảng lần lượt sa vào tay địch, Lan Khai bị
bắt giam, mang số tù 8023, ông bị khép án tử hình, rồi chuyển xuống tội
danh “a tòng nghịch phản”, bị tra tấn tổn thương phổi và mờ mắt. Cha mẹ
ông đã tiêu hết gia tài để cứu ông thoát chết. Thói quen đam mê đọc sách
đến quên ngủ, quên ăn đã làm ông sớm phải mang kính cận. Ông đã viết
cuốn bút ký nhan đề 8023, thuật lại những năm tháng hoạt động trong tổ
chức Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học và bị cầm tù. Từ đó trở đi, ông
chuyên tâm vào sáng tác, nghiên cứu, dịch sách, sưu tầm văn học và dạy
học. Từ những năm 30 trở đi trên các tờ báo Loa, Ngọ báo, Đông Phương,
Đông Tây, Đông Pháp, Văn học tạp chí, Phổ Thông bán nguyệt san, Ích Hữu,
Tiểu thuyết Thứ Bảy, Tao Đàn... bút danh Lan Khai - Lâm Tuyền Khách
ngày càng trở nên gần gũi với độc giả Hà Thành và cả nước, nhất là các
truyện đường rừng, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý xã hội cùng
các bài nghị luận và phê bình văn học, khảo cứu phong tục...
Khi
đã khẳng định được vị trí trên văn đàn, năm 1934 Lan Khai cùng gia đình
chuyển về Hà Nội sống theo nghiệp văn chương. Ở quê nhà chỉ còn lại
song thân tiếp tục nghề cứu nhân độ thế. Ngày mới về Hà Nội gia đình ông
thuê một căn gác nhỏ ở phố Henry d’ Orleans (trục ngang đường Phùng
Hưng ngày nay), sau lại về thuê một căn nhà số 26 phố Châu Long. Với tám
miệng ăn gia đình chủ yếu dựa vào cây bút của Lan Khai. Ông vừa viết
văn, dạy học, dịch sách, diễn thuyết, diễn kịch, vẽ truyền thần và tranh
quảng cáo để nuôi sống gia đình. Thời gian này Lan Khai được ông Vũ
Đình Long - chủ bút Nhà xuất bản Tân Dân mời làm biên tập cho tòa báo số
93 - Hàng Bông. Tại đây ông có điều kiện dồn hết tài năng, sức lực vào
sáng tác và có cơ hội làm quen với nhiều văn sĩ Bắc Hà. Ông là bạn vong
niên của Tản Đà, Nguyễn Văn Tố, Ngô Tất Tố; là bạn văn bút của Trần Huy
Liệu, Hải Triều, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan,
Ngọc Giao, Khái Hưng, Thiều Quang Lộc, Vũ Bằng, Nguyễn Vĩ, Lưu Trọng
Lư, Trần Huyền Trân, Hồ Dzếnh, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn
Công Hoan, Nguyễn Bính, Học Phi, Tchya, Tô Hoài v.v... Là một nhà văn có
năng lực sáng tạo dồi dào và vốn kiến thức sâu rộng, lại là một “con
người hiền hành nho nhã”, Lan Khai được nhiều văn nghệ sĩ yêu kính.
Căn
nhà số 26 phố Châu Long, một thời gian khá dài là địa điểm họp mặt
thường xuyên của nhiều văn nghệ sĩ danh tiếng, được các nhà văn đặt cho
nơi đây cái tên “Vũng Lương Sơn Bạc”. Mặc dù cuộc sống vô cùng đạm bạc,
nhưng Lan Khai là con người chân tình cởi mở, hay nhường cơm sẻ áo cho
bè bạn. Ông còn là trung tâm hòa giải những mối bất hòa trong nội bộ
những người cầm bút. Trong gia đình ông là người con hiếu thảo với mẹ
cha, thương yêu vợ con đằm thắm. Hai người vợ của ông là những phụ nữ
nhân hậu, hòa thuận biết hy sinh tất cả cho sự nghiệp của chồng hay cưu
mang những người vận nạn. Đương thời, thi sĩ Tản Đà gọi họ bằng hai cái
tên thân mật: “Cam phu nhân và Mi phu nhân”[15]. Những người con của họ đều thông minh, ham học và hiếu thảo.
Năm
1938 khi tiểu thuyết Lầm than vừa được in ra, Lan Khai bị Sở mật thám
Pháp bắt giam khép vào tội “tuyên truyền Cộng sản” và bị tịch thu nhiều
bản thảo “có nội dung chống đối” trong đó có tập “Mồ hôi máu” viết về
phu lục lộ ở Yên Bái, Lao Cai. Năm 1939 Lan Khai làm Tổng thư ký tạp chí
Tao Đàn - tạp chí tiêu biểu của Nhà xuất bản Tân Dân, đồng thời ông là
cây bút chủ lực của nhà xuất bản này. Ngoài ra, ông còn là diễn viên
nghiệp dư cho các rạp hát Hà Nội với các vai chính trong các vở tuồng và
kịch lịch sử. Nhà văn Ngọc Giao đã từng ghi lại tài diễn xuất của ông:
“Ngô Thì Nhậm hiện lên sân khấu quả là một nhân vật siêu phàm kiệt liệt,
một đại danh sĩ Bắc Hà, một đại mưu sĩ của Bắc Bình Vương”. Lan Khai
còn là diễn giả thường xuyên cho Hội Trí tri và cộng tác với Nguyễn Văn
Tố trong Hội truyền bá chữ Quốc ngữ. Những người thân của ông cho biết:
Lan Khai dáng cao, người mảnh dẻ, tính tình cương trực nhưng lại hay xúc
động, thích trồng hoa và gần gũi trẻ thơ, ham du ngoạn, ưa quảng giao
hào phóng, hay dí dỏm khôi hài, đặc biệt được nhiều phụ nữ mến mộ. Nhà
báo Văn Hải - người cùng thời cho biết: “Ông là người hiền lành nho nhã,
có khiếu nói chuyện hay, có trình độ cao về Hán văn và rất sành tiếng
Pháp. Cái tên Lan Khai của ông có nghĩa là hoa lan đang nở”[16]. Ông lại là người thường xuyên đau yếu do bệnh hen suyễn “nhiều trang bản thảo ông phải vừa nằm, vừa nghĩ, vừa đọc cho vợ viết”[17].
Ông sống và làm việc hết mình cho nghệ thuật “thường quên ngủ quên ăn”;
có cuốn sách ông viết đi viết lại nhiều lần, còn những cuốn sách ông
phỏng thuật, hay “viết nhanh” đều được ký vào bản thảo là ĐKG trước khi
đưa đến nhà xuất bản (có nghĩa là để kiếm gạo, khi có người hỏi Lan Khai
về bút danh này). Trong các thiên tự truyện cho thấy ông là nhà văn có
lòng tự trọng cao, biết xấu hổ khi thấy người cầm bút phải “đánh đĩ với
cây bút” bằng những trang viết rẻ tiền. Lan Khai là người có khả năng
đặc biệt, viết và vẽ bằng cả tay phải và tay trái như nhau. Cảm phục về
những truyện đường rừng tươi đẹp, các văn nghệ sĩ Bắc Hà đã gọi ông với
cái tên thân mật “nhà văn đường rừng”. Cảm mến trước những bức tranh về
cảnh trí sơn lâm và những truyện đường rừng, Tản Đà đã tặng ông bút danh
Lâm Tuyền Khách. Trên văn đàn, nhà phê bình Trương Tửu gọi ông là “nghệ
sĩ của rừng rú”, là “đàn anh trong thế giới sơn lâm”, là “cây đa cổ thụ
giữa cánh đồng bát ngát”. Qua tiểu thuyết Lầm than nhà văn Hải Triều
viết: “Hiện tại Lan Khai đã phất lá cờ tiên phong trên mảnh đất này”. Vũ
Ngọc Phan cho rằng: “Lan Khai là nhà văn biết ghi những cái đáng ghi ở
trên đời và hiểu tâm lí người lao động”. Nguyễn Tuân gọi Lan Khai là
người “to gan lớn mật nhất văn giới Bắc Hà”...
Cuối
năm 1939, tạp chí Tao Đàn bị đình bản, do nhiều bài báo “có nội dung
chống đối”, Lan Khai lại bị thực dân Pháp bắt giam vì chúng cho cuốn Lầm
than là “truyền đơn Cộng sản” và ra lệnh cho các nhà sách thu hồi cuốn
sách đó. Tập ký sự nhan đề “Nước độc” của ông viết về những người phu và
thợ thuyền ở các bến cảng sông Lô cũng bị tịch thu dịp ấy. Cùng năm,
Nhật vào Đông Dương “tình nước cảnh nhà muôn nỗi éo le”, trong tù ông
còn phải “viết nhanh” một số cuốn ký tên là ĐKG đưa người vợ chuyển cho
nhà xuất bản để cứu giúp gia đình. Ra tù ốm đau bệnh tật, gia cảnh sa
vào quẫn bách, người con cả của Lan Khai là Nguyễn Lan Hương phải bỏ học
về quê trông nom ông nội già yếu. Nhà văn có ý định hồi hương, nhưng
nhiều bạn hữu đã “ngăn chân lại”. Thời gian này ông thu thập các bản
thảo trong 10 năm còn lại cho xuất bản hàng loạt để cứu sống gia đình và
viết cuốn “Mực mài nước mắt” (1940, in 1941) để chuẩn bị “nói lời từ
giã với Hà Thành”. Năm 1943, Lan Khai gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc tại
Hà Nội, nhận nhiệm vụ tuyên truyền cho đường lối của mặt trận Việt Minh
và phát hành báo chí bí mật.
Đầu
năm 1944, Lan Khai mới chính thức hồi hương trở về ngôi nhà lá gồi xóm
Gốc Nhội xưa tại phố Xuân Hoà, thị xã Tuyên Quang, nơi từng là điểm họp
mặt của nhiều văn nghệ sĩ Bắc Hà mỗi lần ngược dòng Lô đi tham quan quê
hương của Lâm Tuyền Khách. Ông vừa dạy học, vẽ truyền thần, viết văn và
mở hiệu sách Lan Đình bán đủ loại sách báo và tranh ảnh. Mặc dù cuộc
sống hết sức khó khăn, nhưng Lan Khai đã hoàn thành bản dịch “Tuổi thơ”
(Hồi ức của Lev Tolxtoi); bộ tiểu thuyết lịch sử “Việt Nam- Ngươi đi
đâu?”; tiểu thuyết “Lũ quỉ ám”; “Những người không được làm người nữa”.
Đầu 1945, Lan Khai đã hoàn thành bộ sách dày ba tập nhan đề “Vạn hoa từ
điển”[18]
và ghi vào trang trước dòng chữ lớn: Kính dâng loài người. Đây là “công
trình máu thịt” của ông qua nhiều năm. Trong đó mỗi loài hoa được vẽ
thành một bức tranh nhỏ kèm theo lời chú giải, bao gồm các loài hoa từ
quen thuộc đến xa lạ ở mọi vùng đất nước, từ hoa huệ, hoa lan, hoa hồng,
hoa đào, hoa mơ đến hoa kroỏng, hoa roóc mạy, hoa tri tàu đông, hoa
mua, hoa sảng v.v... cùng với tập Thơ ca - Lâm Tuyền Khách và nhiều tác
phẩm khác chưa kịp in ra thì một tai họa đã đến với gia đình ông. Do
Việt gian tố giác: “Trong Hiệu sách Lan Đình có lưu hành báo cấm” (Cờ
giải phóng và Cứu quốc), bất ngờ nửa đêm một ngày đầu mùa hè năm 1945,
bọn Phát xít Nhật ập vào gia đình Lan Khai lục soát, đánh đập vợ con ông
và hạ ngục Lan Khai ở nhà giam thuộc Đồn binh Nhật. Chúng tìm mọi cách
đe dọa, dụ dỗ không được và đã tra tấn ông chết đi sống lại nhiều lần.
Trước những ngày Nhật đầu hàng Đồng minh, tưởng ông đã chết, kẻ thù mới
ném tấm thân tàn ấy ra ngoài trại, ông sống sót trở về với gia đình.
Cách
mạng tháng Tám bùng nổ, gia đình ông tích cực hưởng ứng. Con cả nhà văn
là Nguyễn Lan Hương tham gia vào lực lượng tự vệ do Việt Minh lãnh đạo
đánh phá Đồn binh Nhật trong thành cổ thị xã, giải phóng Tuyên Quang.
Lan Khai được bầu làm Chủ tịch lâm thời khu phố Xuân Hòa. Thực hiện chủ
trương của cấp trên, ông hô hào nhân dân “đoàn kết chống đói và đề phòng
quân Tàu Ô núp dưới danh nghĩa Đồng minh kéo vào thị xã”. Đồng thời ông
còn đề xuất ý kiến: “Mở ngay các nhà sách cho con em nhân dân học tập”[19].
Một
buổi trưa ngày thu năm đó, khi vừa dời Uỷ ban Hành chính lâm thời về
nhà, ông nhận được một bức thư ngắn của Thượng cấp địa phương mời đi
nhận nhiệm vụ mới. Trong thời gian 3 tháng tại ATK thuộc châu Tự Do (Sơn
Dương), Lan Khai dạy học kiêm soạn thảo các công văn giấy tờ và dịch
những tài liệu theo yêu cầu của tổ chức. Thời gian đó, qua một người học
trò thân thiết ông có gửi hai bức thư về gia đình, kèm thuốc Nam cho
con; đồng thời ông cũng viết ba bức thư cho đồng chí Trần Huy Liệu. Khi
một bức thư của ông đến được tay Trần Huy Liệu “thì Lan Khai đã vĩnh
viễn xa rồi”! Năm mươi tám năm sau (2003) nhà báo Văn Hải xưa (tức Thiếu
tướng Hoàng Mai- Bộ Công an) đã cho biết ngày tháng năm ông mất và
vuông đất Lan Khai nằm lại. Tám giờ sáng ngày 29-11-1945 là thời khắc
đau buồn nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại và gia đình ông: Lan
Khai bị một tên côn đồ sát hại tại Khe Ngọn, đồng Ao Lân, bản Lũng Cò,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trong thời gian vắng nhà, cha ông -
lương y Nguyễn Đình Chức cũng vĩnh biệt cuộc đời sau trận đại hồng thủy
vào một ngày thu ảm đạm (18-8 Ất Dậu)...
Kháng
chiến bùng nổ, bà Hà Thị Minh Kim - “người vợ ta9o khang” của Lan Khai
cùng ba người con đều tham gia kháng chiến. Bà là Trưởng ban phụ vận
kháng chiến chống Pháp; Nguyễn Lan Hương tham gia Vệ quốc đoàn rồi ngã
xuống hy sinh trong một trận chiến đấu ác liệt ở đỉnh cao phía Bắc, vào
một buổi sớm sương mù ngày đông năm 1948, khi anh vừa 21 tuổi. Nguyễn
Lan Phương công tác ở phân ban Hội họa Mĩ thuật của Sở Thông tin tuyên
truyền quân khu X. Nguyễn Lan Hoa gia nhập Thiếu sinh quân. Nguyễn Lan
Diệp còn nhỏ theo người mẹ tật nguyền (Nguyễn Thị Duyên) đi tản cư. Thực
hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, thị xã Tuyên Quang thành vườn
không nhà trống, Thư viện Lan Khai cùng nhiều tranh mĩ thuật của ông với
nhiều di cảo bị thất lạc, gia đình ông chỉ kịp mang theo một phần kỷ
vật của ông. Hòa bình lập lại, vợ con ông định cư và lập nghiệp ở tỉnh
lị Hà Giang cho đến nay, một số cháu chắt của ông vẫn theo ngành nghệ
thuật.
(còn tiếp)
Nguồn: Lan Khai Tuyển tập. NXB Văn học, 5-2010.
|
Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013
NHÀ VĂN LAN KHAI - TƯ LIỆU
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét