Nhà văn Sương Nguyệt Minh, cây bút chắc lực của Quân đội vừa ra mắt tập truyện ngắn thứ 7 của mình với tựa "Dị Hương". Đây là tập truyện đánh dấu bước chuyển mình sang một phong cách mới, một tầm nhìn mớii. Dưới đây, xin giới thiệu truyện ngắn "Dị Hương" - truyện cuối cùng trong cuốn sách cùng tên của nhà văn Sương Nguyệt Minh.
Nhợt nhạt. Khô xác. Và thất sắc.
Nằm đườn đưỡn tựa hồ cái xác vô hồn.
Dị hương sang trọng quý phái thanh tao biến mất. Yểu điệu dịu dàng chỉ
còn trong hình cũ bóng xưa. Không còn là mỹ nhân thanh mai trúc mã thuở
nào. Chẳng còn ngọc ngà sắc nước hương trời ngày trước. Cứ mỗi lần ân ái
xong là Đức phi tam cung Ngọc Bình như con cá ươn nằm trên thớt. Hết
sạch hứng thú, lòng lạnh nguội, Nguyễn Ánh chỉ muốn đạp Đức phi ra khỏi
long sàng. Đã đôi lần Ánh tức giận và chán chường, muốn gọi thái giám
đem nàng đang khỏa thân héo rũ giam vào lãnh cung. Cái gì đã làm cho
nàng tàn tạ, ươn lạnh?
Cung tần qua đêm với Ánh, dù ngực hẳn
đầy vết hồng đỏ của bàn tay thô ráp cầm kiếm, hai đùi nhiều vết răng bầm
tím, sáng ra vẫn nhuận sắc, nuối tiếc trong niềm hân hoan, mắt sáng
long lanh, mặt mày rạng rỡ. Mỹ nữ trong vòng tay vần vò của Ánh, dù khi
chính ngọ hay lúc chiều tà, ái ân xong vẫn cười tình tứ, mắt ướt rượt,
thịt da căng mẩy, no nê, thỏa mãn. Còn Đức phi tam cung, Ánh chiều
chuộng nâng niu, vuốt ve, mơn trớn, đam mê cuồng nhiệt. Vậy mà nàng vẫn ở
ngoài trái tim tráng niên sung mãn của Ánh. Điều gì khiến lòng nàng
băng giá, thờ ơ? Ánh không cắt nghĩa được. Còn một điều kỳ lạ, cứ mỗi
lần Ánh ra khỏi long sàng mặc quần áo thì thân thể Đức phi lại nhuận sắc
hồng hào, tươi mởn. Dị hương lại vấn vít quyến rũ không dứt… Cũng là
điều Ánh không hiểu nổi.
*
Vó ngựa phi đến bờ sông An Cựu thì
dừng đột ngột. Con ngựa tía chân xước sát bởi cành lá quệt gai đâm không
chịu cất thêm nửa bước. Nó nghênh nghênh đầu lắng nghe những câu hát
của bọn trẻ chăn trâu thả ra khắp triền sông.
Hơn hai mươi năm trườngNếm mật nằm gai
Chí cao ngút trời xanh
Vó ngựa xéo nát bàn dân thiên dạ
Trước mặt máu chảy đầu rơi
Sau lưng xương trắng đống gò…
Sự lạ? Một vùng hoang vu. Quạ đen bay
rợp trời. Xác binh lính chết như ngả rạ. Đồ khí giới quẳng vô tội vạ.
Ngựa què nằm bẹp, máu tím bầm đen. Ruồi trâu bay vù vù. Xe mộc bỏ vương
vãi. Đồng không mông quạnh. Xơ xác. Tiêu điều. Thật ai oán thê lương
nước lửa và ống đồng. Ánh vốn lạnh lùng đến độc nghiệt, cũng không khỏi
xót xa, cô đơn và buồn.
…Đường dọc ngang bôn tẩuDị hương bay bất chợt
Vương tướng lòng dạ xốn xang
Ngỡ ngàng say người đẹp châu sa
Đôi chân đạp đổ thành phá lũy
Bồi hồi không qua ải mỹ nhân.
“Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai chồng làm vua”
Những câu hát xa gần man mác, hoang liêu vẫn cứ rót vào tai người máu lạnh.
Sinh thời Ánh trọng võ hơn văn. Đất
nước tao loạn, ru rú thù tạc những vần thơ cũ mèn nhạt nhẽo thử có ích
gì? Chẳng ai lấy được thiên hạ từ những bài thơ kẽo kẹt, à ơi. Bất quá,
mua vui được chốc lát qua miệng con hát con đào. Lưỡi gươm chém vào trời
xanh mới đáng mặt anh hùng. Ánh rất ghét bọn hủ nho làm thơ. Chúng
thường xúm vào tâng bốc, ngợi ca Ánh như một bậc kỳ tài trong thiên hạ
chí lớn ngùn ngụt. Cứ như chỉ có Ánh mới đáng mặt lấy thiên hạ từ tay
anh em Nguyễn Huệ. Nghe mãi cũng chán. Thực ra, bọn hủ thơ chỉ rặt một
lũ ăn bám. Chẳng ích tóp gì. Huống hồ mấy câu hát vặt của trẻ con...
Nhưng sao bọn trẻ chăn trâu cắt tóc để chỏm lại hát: “Gái đâu có gái lạ đời. Con vua lại lấy hai chồng làm vua”?
Có điềm gì tốt hay lành như lời sấm truyền đang rơi xuống bầu trời Phú Xuân?
*
Dưới trướng của Ánh có một nhân vật
rất kỳ dị tên là Trần Huy Sán. Sán vốn là bộ hạ của Nguyễn Hữu Chỉnh.
Nguyễn Huệ thấy Chỉnh hẹp hòi, đố kỵ, gian hùng lòng dạ hai nơi nên giết
đi. Sán bơ vơ ở Thăng Long một thời gian rồi bỏ vào Nam theo Nguyễn
Ánh. Sán người lùn tịt. Chân tay ngắn tủn. Cổ bé, dài ngẵng, chằng chịt
những mạch máu như đường gân xanh. Nhưng, đầu to như cái chõ xôi. Tóc
búi tó củ hành to như vốc tay. Thật dị biệt. Trí lực hơn người. Tính
tình khảng khái. Gàn dở hết chỗ nói. Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Y
có cái yếm thắm nhỏ và hai cái dải đứt rời nhau, lúc nào cũng mang theo
bỏ trong túi áo. Lúc ngủ thì đắp cái yếm lên mặt. Nhòm rất tức cười. Có
một điều kỳ lạ, yếm thắm có mùi hương rất dị biệt. Mỗi lần lấy yếm ra
khỏi túi áo là hương bay dìu dịu thoang thoảng xa gần quyến rũ. Bí ẩn
hương thơm kỳ lạ ấy từ đâu thoảng đến, chỉ mình y biết. Y có tài văn
thơ, hiểu nho y lý số. Những ý nghĩ dù u tối hay ranh mãnh, sáng sủa
trong đầu Ánh đều không qua mắt Sán. Ánh tin dùng lắm, luôn cho đi theo
cùng trời cuối đất. Kho tàng tri thức Nho học của Sán đã giúp Nguyễn Ánh
được cái danh thâm sâu, khỏi tiếng võ biền mà cánh sĩ phu Bắc Hà cao
ngạo thường mỉm cười coi rẻ.
*
Thấy minh chủ mặt hằn những điều âu lo, ngẫm ngợi, băn khoăn, Trần Huy Sán liền phán rằng:
“Hạ thần nghĩ, cứ theo những câu hát
kia thì âu cũng là điềm trời thả xuống nhân gian. Phen này chúa vương
lấy được Phú Xuân, thống nhất bờ cõi là chuyện đại sự dễ như thò tay vào
lồng bắt chim sẻ. Nhưng, chúa vương cũng sẽ bắt đầu sống vật vã thật
với chính lòng mình, đó cũng là sự lớn của đời người”.
Giương cặp mắt nhìn u ám đầy nghi ngờ, Ánh bảo:
“Ngươi nói ta không hiểu. Ta đồ rằng
riêng ý tưởng này cao siêu quá, ngươi lại nói những điều viển vông như
đám nho sĩ Bắc Hà rồi. Rõ nực cười”.
Sán lại tâu:
“Thưa chúa vương. Ý chí phục tộc của
vương quyết liệt cháy ngùn ngụt như ngọn lửa trong lò bát quái. Người
đứng trên thiên hạ nên không thèm để ý đến các điều nhỏ nhặt trong cõi
nhân gian và chính mình. Song thần nghĩ, thực ra chúa vương tự hiểu được
mình rồng mới là điều khó nhất, hiểu lòng thiên hạ chỉ mới là cái khó
thứ hai thôi”.
“Sao ngươi có lắm điều tâm sự thế? Lòng dạ đang ngổn ngang rồi. Có phải ngươi đã nhìn thấy trước mọi việc sẽ xảy ra với ta?”.
“Chính phải. Quang Toản là tên bất
tài, bạc nhược. Chúa vương sẽ lấy được tất cả những gì thuộc về Toản kể
từ cõi bờ thiên hạ, cung tần mỹ nữ đến con chó con lợn. Chung quy cũng
bởi đại anh hùng Nguyễn Huệ vắn số”.
Nghe Sán nói, mặt Ánh tối sầm lại, rút phắt gươm ra, quát: “Ngụy Huệ thiên tài thực, nhưng chỉ là tên giặc cỏ”.
Sán vươn cổ cò dài ngẵng nổi chằng
chịt những đường gân xanh rợn chờ một ánh chớp. Ánh chùn tay, tra gươm
vào bao. Sán im lặng, không nói gì, lui ra. Sán vừa đi vừa nghĩ: Mai mốt
chúa thượng sẽ hân hoan, mình thì khốn nạn, bẽ bàng không kể xiết.“Sự
đâu có sự lạ đời/ Con vua lại lấy hai chồng làm vua”. Miệng Sán cứ lảm
nhảm mãi, như thằng tâm thần.
*
Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân dễ như
trở bàn tay. Được một ngày hân hoan mừng vui, hôm sau buồn hẳn. Ánh đeo
gươm đi ra đi vào rồi ngồi ủ dột nhìn sông Hương xanh rợn phẳng lì như
ngưng chảy. Mấy con đò vắng khách neo vào bờ, có lẽ chủ sợ hãi loạn binh
đao bỏ của chạy lấy người. Nguyễn Văn Thành đang đốc quân truy quét,
bắt bớ gia thất, quan lại Tây Sơn lẩn trốn và chuẩn bị cho ngày ra Bắc
đánh Thăng Long. Y thấy minh chủ lặng trầm liền hỏi:
“Phú Xuân đã vào tay chúa công. Ba quân nhảy nhót reo ca. Sao Chúa vương có điều gì không vui?”.
Ánh thở dài, bảo:
“Giờ ta mới thấy Sán nói đúng. Ngụy
Huệ là bậc đại anh hùng thiên hạ thực. Huệ chết bất đắc kỳ tử, ta mới
lấy Phú Xuân dễ dàng như đi vào chỗ không người. Vậy phỏng có vẻ vang
kiêu hãnh gì với bậc Chúa vương đại nguyên súy như ta? Tiếc y không còn
sống để ta thi thố đường gươm vó ngựa”.
Trần Huy Sán lúc đó đang ngồi thảo bài chiếu yên dân, liền ngừng bút, bẩm:
“Thưa Chúa vương, đất nước mệt mỏi,
binh đao loạn lạc đồng không xương trắng đã quá lâu. Chả lẽ, chúa công
lại muốn Nguyễn Huệ sống lại để thi thố tài năng trên xương máu dân đen
con đỏ?”.
“Ta biết… ta biết… rồi binh đao cũng
đến hồi kết. Ngụy Huệ hoặc ta chết sớm thì cuộc chiến tranh mới mau chấm
dứt. Nay mai ra Bắc, bắt ngụy Toản cũng chỉ dễ như bắt cua bỏ giỏ. Chả
lẽ nước Nam này chỉ còn mỗi mình ta là bậc đại anh hùng? Bờ cõi sẽ thuộc
về ta, hạt lúa củ khoai trong thiên hạ, đến cung tần mỹ nữ nhà Tây Sơn
cũng thuộc về ta nốt”.
Sán nghĩ thầm trong bụng: Thiên hạ này
chỉ có hai kẻ cao ngạo, Sán là một, có dễ Ánh là người thứ hai. Trước
sau rồi mình cũng chết dưới lưỡi gươm của Ánh. Lòng dạ Sán ngao ngán,
nhớ lại câu hát, lòng vừa phục Ánh lại vừa thầm ghen với Ánh.
*
Phú Xuân yên ổn, Ánh muốn lòng tĩnh
lại, tìm về những ký ức mù xa thiếu thời êm đềm và đẫm nước mắt chạy
loạn Tây Sơn. Ánh bảo Trần Huy Sán kêu quân lấy thuyền rồng của Quang
Toản bỏ lại, ngược dòng Hương Giang.
Nước sông xanh ngắt. Mây trôi dưới dòng. Bao la một vùng non sông cẩm
tú. Ánh đứng ở đầu mũi thuyền. Tay nắm đốc gươm báu đeo hông. Đôi mắt
hướng lên phía thượng ngàn. Vẫn buồn. Cô độc.
Thuyền ngược dòng đến đoạn ngang Hương
Uyển Sơn, Ánh nhìn núi non giống như con sư tử đang nằm thò đầu xuống
sông uống nước, liền hỏi một viên quan già. Y kính cẩn tâu rằng:
“Chúa vương bôn tẩu thiên hạ hơn hai
mươi năm quên mất rồi ư? Xưa núi này có tên Hương Uyển Sơn, sau đặt lại
là Ngọc Trản Sơn, dân gian gọi nôm là núi Chén Ngọc; bởi trên đỉnh núi
có chỗ đất trũng xuống, đường kính vài mét, chung quanh có vòng đá dựng
như bờ giếng. Hễ mưa xuống thì nước đọng lại trông như cái chén đựng
nước trong. Ngày xưa người Chàm thờ nữ thần Ponagar ở Hương Uyển Sơn.
Sau đó người Việt theo Thiên Tiên Thánh Giáo tiếp tục thờ bà với danh
xưng Thánh Mẫu Thiên Yana…”
Ánh bảo:
“Ta phải lìa xa Phú Xuân chạy nạn binh đao từ thuở thiếu thời. Những nơi linh thiêng như thế chưa kịp đến. Thật tiếc lắm thay”.
Viên quan già khép nép tâu tiếp:
“Thưa Chúa vương! Nữ thần Ponagar là
con của Ngọc hoàng Thượng đế được sai xuống trần gian. Bà tạo ra trái
đất và các loại gỗ, kỳ nam, lúa gạo,… và làm cho chúng tỏa hương. Ngọc
Trản Sơn lúc nào cũng có mùi hương thơm lạ lan tỏa vấn vít”.
Ánh nghe thấy có vẻ lạ lẫm và thần bí lắm, bèn vẫy quân chèo thuyền
cập bến. Phía Tây mặt trời đã gác núi. Hoàng hôn đỏ bầm như máu. Sông
Hương xanh trong cũng quặn mình ngả màu đỏ hồng lai láng. Ánh đeo gươm
bước ra khỏi thuyền.
Bỗng nhiên lòng dạ Ánh xao xuyến bởi
mùi hương lạ ở đâu đó thoảng bay lãng đãng. Đúng như viên qua già tấu,
mỗi bậc đá xanh lên núi lại ngửi được mùi hương đậm hơn. Bước thêm vài
chục bậc nữa thì gặp người con gái mặc áo thôn nữ. Thị có vẻ ở nơi thâm
cung nhàn nhã no đủ, chẳng giống thôn quê đói rách. Tóc đen óng ả buộc
sau gáy thả dài chấm gót. Cổ trắng. Tay cũng trắng. Thị đứng án trước
mặt Ánh gần như cản đường. To gan lớn mật nhỉ! Mặt mũi sáng sủa, nhưng
lem nhem vết nhọ than. Ánh hỏi:
“Người có biết hương thơm lạ lùng từ đâu bay tới?”.Thị lo sợ. Mặt lộ vẻ hốt hoảng:
“Dạ. Hoa cỏ… núi Hương Uyển”.
“Thì đã rõ! Ta bôn tẩu khắp Đàng
Trong, có loại cây cỏ nào ta chẳng biết. Nhưng, còn một hương thơm lạ
lùng nữa không phải từ thảo mộc”.
Thị lại càng ấp úng:“Thưa! Từ thân thể… tiện thiếp… tỏa ra ạ”.
Ánh tức giận, thoáng nghĩ: Con hầu
người ở chẳng phải. Cành vàng lá ngọc càng không. Áo xô gai. Chân đất.
Như đám đàn bà con gái lần đầu đi làm thợ sơn tràng. Lại dám khi quân ư?
Ánh đưa một đường gươm. Chớp lóe sáng lên phạt ngang cổ thôn nữ. Máu đỏ
phun lên như mạch nước ngầm hở miệng. Lọn tóc dài tung lên trời bay
liệng hình con rồng rồi quấn vào cành cây.
Ánh bước chục bậc đá xanh nữa lại một
thị nữ xinh xắn, ưa nhìn, án giữa đường dốc lên. Thêm một con rồng tóc
bay lên trời xanh. Ánh lên đến đỉnh Ngọc Trản Sơn thì cũng kịp vung gươm
phạt bay năm đầu thị nữ.
“Ta muốn biết hương thơm dị biệt ở đâu bay đến?”.“Hoa cỏ đất trời Ngọc Trản Sơn chỗ nào cũng có, thưa tráng sĩ”.
“Bàn chân ta xéo nát thiên hạ. Có loại cỏ cây nào ta không biết. Có một thứ hương thơm quý phái nữa không phải từ thảo mộc”.
“Dạ… thưa. Từ thân thể tiện thiếp”.
Ánh lại vung gươm nhưng nửa chừng thì hạ xuống. Ánh bỗng chùn tay không dám chém người người đẹp thứ sáu.
*
Trong điện thờ Thánh Mẫu Thiên Yana,
lòng dạ Ánh vẫn bồn chồn. Ánh bước ra ngoài. Lai láng ánh trăng non
vàng. Mùi hương lạ cứ vấn vương đâu đó. Tiếng nước xối chảy tong tóc lúc
xa lúc gần. Ánh bảo quan quân đứng chờ. Dường như “ma đưa lối quỷ đưa
đường”, không, có thể là nữ thần Ponagar dẫn dụ Ánh đi đến bên giếng
nước.
Không thể tin được! Một cô gái đẹp như
nữ thần Ponagar khỏa trần đang tắm ở thềm giếng. Một tì nữ quăng gầu
múc nước. Thân thể ngọc ngà. Những đường cong mẩy nuột nà tưới đẫm trăng
non. Ánh bèn lẩn vào bên lùm cây, kéo cành lá, mặt đần ra mê đắm nhìn
mỹ nhân tắm. (Sau này Trần Huy Sán viết Phú Xuân thực lục đổ ấn cho Ánh
nhòm trộm. Bởi khi nhìn thấy con gái đẹp tắm thì hoàng đế quyền nghiêng
thiên hạ hay thằng ăn mày rách rưới cũng giống nhau thôi. Y còn bình
rằng: Thật ra, Ánh dòng vương giả hoàng thân quốc thích, nhưng bôn tẩu
25 năm trong thiên hạ gian nan, vất vả, nhiều phen ngủ bờ ruộng chui bụi
cây, rập rạ, khốn cùng, tuyệt vọng... Bấy giờ, bỗng dưng bắt gặp con
gái đẹp khỏa thân tắm giữa đất trời cây cỏ thì như lạc vào cõi vừa trần
tục vừa thanh cao, không nhòm trộm mới là giống nửa đàn ông nửa đàn bà.
Điều này không biết thực hư thế nào).
Mùi hương lạ lúc ngào ngạt lúc vấn
vương thoảng bay. Ánh nhận ra mùi hương da thịt con gái đang hứng tình
nồng nàn trộn lẫn mùi bạch lan đài các và cỏ thi dân dã quý hiếm. Ánh
ngẩn ngơ bởi dị hương và vẻ đẹp con gái khỏa thân giữa cây cỏ thiên
nhiên. Bất ngờ, tay Ánh vô tình làm gẫy cành cây nhỏ. Con tì nữ ngang
ngạnh hắt gầu nước về phía tiếng động và lớn tiếng quát. Quần áo người
hùng vừa lấy kinh thành Phú Xuân ướt lướt thướt. Ánh bèn phải bước ra.
Trăng đầu tháng chênh chếch. Bóng Ánh
đổ dài kéo thành vệt đến giếng nước. Mỹ nhân vội khép hai đùi, một tay
che hai trái tuyết lê căng mẩy, một tay che đám lông mu đen mượt. Thực
ra, mỹ nhân không cần phải hốt hoảng che đậy vì chỏm đầu của Ánh đã đổ
bóng đen lên ngực nàng.
“Tự nhiên... Nàng cứ tự nhiên như thể ta chưa từng nhìn thấy”.
Mỹ nhân có vẻ trấn tĩnh lại song vẫn
lóng ngóng, chân gạt đổ ào lu nước. Cái lu gốm đất nung lăn lông lốc.
Ánh lưỡng lự, nửa muốn bước vòng qua thành giếng tiến lại gần, nửa muốn
đứng im nhìn mỹ nhân trong bóng trăng mờ ảo. Cuối cùng thì Ánh quay gót
trong sự ngập ngừng nuối tiếc.
“Tráng sĩ đã tha mạng cho tiện thiếp, thì hoàng hậu chắc chắn sẽ bình an. Xin hoàng hậu đừng sợ”.
“Hoàng hậu!” Sao lại là hoàng hậu?
Thảng thốt trong lòng, Ánh quay lưng, bước lại. Mùi hương dị biệt lại ào
vào mặt Ánh. Con tỳ nữ đứng án ngữ che gần hết thân người đẹp. Ánh dùng
sống gươm khều xiêm y đang treo vắt vẻo trên cành cây bứa hất mạnh.
Xiêm y bay vèo qua giếng nước. Tì nữ giơ hai tay đón được.
“Mặc xống áo vào cho mỹ nhân”.
Ánh nói xong rồi ngồi vắt lên thành
giếng xây bằng đá xanh. Bao gươm xệ một bên hông. Bóng Ánh đổ xuống hòa
lẫn mặt nước tối om. Lòng dạ ngẩn ngơ, miệng Ánh cứ lẩm bẩm: “Mỹ nhân…
Hoàng hậu… Mỹ nhân…”.
Người đẹp đã trấn tĩnh lại bước đến gần, buông gót nhẹ nhàng, êm ái, giọng nói thanh và tự tin, phong thái ung dung:
“Này tướng Gia Định. Ngươi hãy về nói với Nguyễn Vương rằng ta đã chờ cái thời khắc này từ lâu rồi”.
Ánh sửng sốt. Bao nhiêu cái đầu lăn lóc
dưới đôi chân bôn tẩu của Ánh. Nàng đã không hề sợ lưỡi gươm sáng lạnh.
Ánh thầm khen và kêu quân hầu đưa mỹ nhân xuống thuyền, rồi đứng dậy đi
trước.
Còn một người nữa lòng dạ đầy ngổn
ngang bước chân nặng chình chịch đi theo sau là Trần Huy Sán. Y đã chợt
nhận ra người xưa. Vẫn vẻ đẹp trẻ trung ấy, nhưng đã pha màu đậm đà. Y
cũng nhận mặt bọn tì nữ ăn mặc theo lối nhà quê trốn sự truy tìm của
quân nhà Nguyễn. Y bồi hồi nhớ lại thời còn ở kinh kỳ Thăng Long…
*
Mỹ nhân là cô bé lên mười hai tuổi đã
phổng phao, sáng rỡ, tóc dài đổ óng mượt chấm gót. Y mê mẩn nàng đến nỗi
mỗi khi gặp là cứ lẽo đẽo bước sau lưng. Lại làm không biết bao nhiêu
thơ lấy cảm hứng từ nàng. Một lần có trận lốc khủng khiếp. Vòi rồng cuốn
cả kho tiền đồng, quần áo vua quan, xiêm y cung tần mỹ nữ trong cung
bốc lên trời rồi ào ạt ném tóe loe, vương vãi ra ngoài thành. Lúc đó, y
đang ngẩn ngơ đi lẽo đẽo sau người đẹp cũng bị chìm trong lốc giông.
Lòng tham mỗi người một vẻ. Đám thảo dân, binh lính đi tuần tranh nhau
nhặt tiền đồng, trang phục vua quan, xống áo cái ướt cái khô… đến bươu
đầu mẻ trán trong mù bụi. Chỉ riêng y lại chạy đuổi theo cái yếm thắm
chao liệng như cánh diều hồng trên không trung. Chân y ngắn tũn chạy
liến thoắng đến mức đám tì nữ cười ngặt nghẽo, quên cả cơn mưa tiền, mũ
mão, xiêm áo. Cuối cùng y cũng nhẩy cẫng lên tay nắm “cái diều hồng”.
Lập tức lòng dạ Sán mê mẩn bởi mùi hương kỳ lạ thoang thoảng từ cái yếm.
Bọn tì nữ theo hầu nhận ra yếm thắm của mỹ nhân.
“Trả lại yếm cho công chúa út đi”. Sán không chịu, còn ấp cái yếm thắm lên mặt. Bọn tì nữ quát:
“Đồ vô lễ. Ngươi muốn chết à?”.
Sán cứ khư khư giữ chặt vật báu trong tay. Rồi vươn cổ như cổ cò gân xanh nổi chằng chịt ra đợi chém.
Công chúa nhỏ hồn nhiên nhìn cái đầu to đùng cắm vào cổ dài ngẵng kì dị thích thú quá, bảo:
“Yếm nhặt được là yếm vô hồn. Ngươi cầm giữ phỏng có ích gì?”.
Sán lưỡng lự đôi chút, dứt phắt hai
cái dải yếm rồi mới trả. Công chúa nhỏ không giận. Lúc đó, tự dưng nàng
cảm động, trong lòng trào lên một niềm yêu quý không cắt nghĩa được. Cả
đám quan quân và thảo dân tranh nhau hôi của vòi rồng cuốn không ra thể
thống gì. Chỉ mỗi mình y bỏ qua tiền của, theo đuổi cái yếm thắm. Cũng
là một con người dị thường.
“Yếm không dải còn làm gì được nữa. Thôi, ta tặng ngươi”.Y bất ngờ quá, đứng trân trối.
“Tiếc rằng ngươi không dũng mãnh anh
hùng như Nguyễn Huệ; kỳ tài, nhẫn nhịn nuôi chí đoạt lại thiên hạ như
Nguyễn Ánh để ta chọn làm chồng. Ánh còn bôn tẩu nơi chân trời góc bể.
Huệ đã lấy Ngọc Hân chị ta, lại cũng đã chết sớm rồi. Thật hoài phí lắm
thay”.
Công chúa than thở rồi vẫy đám tì nữ
bước đi. Những bóng hồng xa mờ mà Sán vẫn đứng nghệt mặt nhìn theo. Tay
nắm dải, tay nắm yếm chặt cứng…
*
Đèn lồng và nến sáng rực. Mặt nước
sông Hương lung linh ánh trăng non lẫn ánh đèn. Ánh khoác trang phục màu
vàng uy nghi, ngù vai, vương hiệu lóng lánh trên ngực áo. Bấy giờ, mỹ
nhân mới nhận ra Nguyễn Vương, lòng đầy cả thẹn, e lệ và mừng vui. Thực
ra, nàng nhận ra cái thân hình ngắn tũn kỳ dị và cái mặt bần thần của
Trần Huy Sán trước, muốn hỏi thăm vài câu về Thăng Long mà chưa tiện.
Giọng vương giả, quyền uy, Ánh hỏi:“Có phải nàng là công chúa Ngọc Bình?”.
Khoan thai, ung dung tự tại, mỹ nhân đường hoàng thưa:
“Chính phải. Thần thiếp còn là Chính cung Hoàng hậu nhà Tây Sơn Cảnh Thịnh Hoàng đế Nguyễn Quang Toản, thưa Nguyễn Vương!”.
Ánh cau mày, tức giận, quát to đến nỗi
bao gươm đeo bên hông gõ xuống ghế rồng cạch cạch. Không gian tràn ngập
mùi binh khí lạnh lẽo rợn đến ghê người:
“Tây Sơn chẳng qua là một lũ giặc cỏ,
chẳng có tên nào là đế vương trong mắt ta. Ta không muốn nghe nàng nhắc
đến tên Toản đớn hèn, bất tài”.
Mỹ nhân bỗng thở dài. Các huyệt, và
những lỗ chân lông đóng chặt cứng. Mùi dị hương biến mất. Nỗi buồn tê
tái lộ rõ vẻ thất vọng trên gương mặt quí phái:
“Thời nhỏ, thần thiếp nghe đồn chỉ có
Nguyễn Vương mới sánh được bậc đại anh hùng trong thiên hạ Nguyễn Huệ.
Thần thiếp đã lâu vốn lòng kính phục, yêu dấu. Té ra Nguyễn Phúc Ánh
cũng hẹp hòi nhỏ nhen chưa bằng Quang Toản chồng ta vậy”.
Nói rồi mỹ nhân lao đầu vào sập rồng
tự sát. Ánh nhanh tay túm được vạt xiêm. Mỹ nhân mất thế, loạng choạng
đổ nhào. Ánh đỡ được mỹ nhân, ôm choàng vào lòng. Thân thể Ngọc Bình mềm
oặt trong tay Ánh. Lụa xiêm mềm mại mát rượi. Hơi thở mỹ nhân nóng hổi
vấn vít mùi hương. Máu bốc hỏa lên đầu Ánh dịu hẳn. Tay phải Ánh vẫn nắm
chặt mảnh xiêm y vừa bị xé toạc.
“Sao nàng lại liều thân như thế. Nàng đã ở bên ta đâu mà biết được đâu là vương giả đâu là tiểu nhân, đâu là vàng thau?”.
Mỹ nhân vẫn nhắm hờ mắt, như chết lịm.
Nỗi buồn lặng thầm hằn trên gương mặt khả ái làm vẻ đẹp của nàng càng
thêm mặn mà. Lòng Nguyễn Vương quặn thắt, suýt nữa thì làm vỡ ngọc quý:
“Sao mỹ nhân nói rằng, mỹ nhân chờ đợi thời khắc gặp Ánh này đã lâu?”.Ngọc Bình chợt nhớ ra điều gì đó. Nàng như từ xa xăm trở lại trần gian:
“Nguyễn Vương thừa biết thần thiếp chờ đợi điều gì rồi còn hỏi”.
Nói rồi, Ngọc Bình nép sát đầu vào
ngực Ánh. Lòng dạ Ánh nôn nao, cồn cào như sóng biển Tây Nam. Bọn Lê Văn
Duyệt, theo hầu lúc đó bối rối nửa muốn đi nửa ngồi lại. Trần Huy Sán
rầu lòng quá, lại thêm chút bẽ bàng, thò tay lấy yếm thắm trong túi áo
ra lúc nào chẳng biết. Mùi binh khí khét lẹt lạnh lẽo nhạt dần, mùi dị
hương thoảng đưa. Ánh chợt nhìn thấy Sán cứ bần thần mân mê yếm thắm.
Ánh lộn tiết, cho rằng Sán chơi trò ma thuật phù thủy, bèn quát lính lôi
ra chém. Y lại vươn cổ ra.
Ngọc Bình ngăn Ánh lại, kể vắn câu chuyện vòi rồng hút kho tiền ở kinh kỳ Thăng Long, rồi tâu:
“Thưa Nguyễn Vương! Thần thiếp cũng không ngờ Sán giữ cái yếm từ dạo ấy. Thần thiếp thật cảm động”.
Ánh bảo:
“Hóa ra, dị hương lãng đãng tỏa ra từ cái yếm thắm của nàng chứ không phải từ cơ thể thằng khốn này”.
Đoạn Ánh quay ra bảo Sán:“Vậy là, người hạnh phúc trước cả ta rồi”.
Sán nhét cái yếm thắm vào túi rồi rũ tay áo, cung kính tâu:
“Dạo còn ở kinh kỳ Thăng Long, hai
đấng kỳ tài mà công chúa khao khát được thành thân hoặc là Nguyễn Huệ
hoặc Nguyễn Ánh, chứ không phải hạ thần”.
Bấy giờ Lê Văn Duyệt mới lên tiếng:
“Chúa thượng bình sinh khắp thiên hạ,
binh đao nước lửa từng qua, lụa là châu báu, gái đẹp không thiếu. Hà cớ
gì phải hạ mình trước con đàn bà vợ ngụy Quang Toản? Bọn thần lấy làm
đau lòng và bẽ bàng lắm lắm”.
Ánh cười gằn, bảo:
“Bọn các ngươi không nghe câu thơ cổ:
"Mỹ nhân tự cổ như danh tướng". Nàng còn hơn cả danh tướng. Ta được nàng
như được nửa cuộc đời”.
Cả bọn thấy Ánh cười gằn lạnh như ánh chớp đường gươm thì không ai bảo ai, đều lui ra.
*
Đêm ấy, Ánh hạ lệnh neo thuyền rồng
giữa sông Hương, bày trò hát múa. Nửa chừng cuộc vui, Ánh đã xao xuyến,
thổn thức nhìn Ngọc Bình âu yếm lắm. Ánh cảm thấy có lỗi với nàng, than
thở, ra chiều thương xót bọn cung nữ đã bị mình chém ngang cổ. Mỹ nhân
nhìn Ánh, trìu mến cười hiền hậu, thưa:
“Ơn trời! Vương đã không phạt đầu đứa
cung nữ nào của thiếp. Của đáng tội, chúng mất mái tóc dài cũng tiếc,
nhưng được toàn thân. Chúa công không thấy chúng đang xúm quanh thiếp
đấy sao”.
Ánh kinh ngạc lắm, chẳng hiểu mình đã
làm gì với đám cung nữ. Dọc đường cầm gươm lên Ngọc Trản Sơn cứ hư thực
tựa hồ như trong mơ vậy. Nhìn đám cung nữ xinh đẹp của Ngọc Bình, tóc
đứa nào cũng bị phạt thả lòa xòe chấm vai, trông rất ngộ. Ánh cứ luôn
miệng lẩm bẩm:
“Chả lẽ… chả lẽ… gươm của ta chưa vấy máu cung nữ”.
Ánh uống rượu đến tận khuya rồi vào
khoang đã kê long sàng ngủ với Ngọc Bình. Ánh cầm gươm đưa những đường
tuyệt kỹ như múa, nhẹ hơn gió thoảng. Loáng một cái cắt nát xiêm y, lụa
bay tung lên rồi rơi xuống tơi tả. Như bị bóc trần, mỹ nhân khỏa thân
hoàn toàn, mà mũi gươm không hề chạm đến da thịt ngọc ngà. Thuyền rồng
lắc lư, dềnh lên dập xuống. Sông Hương nổi sóng. Tiếng rên rỉ trong niềm
khoái lạc tột cùng của Ánh tựa hồ tiếng binh khí chạm vào nhau lan ra
mặt sông làm váng đầu quan quân. Cá chép ở thượng nguồn xuôi về. Con đực
bám đuôi con cái, quẫy ùm ũm giao phối không đợi mùa động dục. Cả khúc
sông Hương nổi đầy màng nhầy trong suốt lấm tấm trứng cá, nồng nàn mùi
đực cái. Từ lính, quan đến cung tần không ai ngủ nổi. Lại có một người
ngũ đoản, cổ dài, đầu to đứng còm cõi ở mũi thuyền. Một lúc sau, cũng
không chịu được tiếng rên lạnh lẽo của Nguyễn Ánh, y rút gươm khỏa lia
lịa xuống dòng sông. Cá chép động dục bị các đường gươm cắt đôi nổi
trắng, máu loang đỏ bầm. Kỳ lạ thay, chỉ những con cá đực bị chết tức
tưởi mà chẳng biết lý do gì.
Trên long sàng, Nguyễn Ánh cảm thấy dễ chịu, thỏa mãn và kinh ngạc phát hiện ra điều bí mật:
“Ta không thể tin được nàng vẫn còn trinh trắng”.
Hai mắt sáng rỡ, lấp lánh. Nụ cười tươi tắn đầy thõa mãn, Ngọc Bình úp mặt vào vồng ngực vâm váp của Ánh, thưa:
“Thần thiếp đội ơn nhuần mưa móc của
người. Sáu năm thần thiếp làm vợ Quang Toản, chưa một ngày được làm đàn
bà đúng nghĩa. Phải như vương năng lượng đế vương thừa thãi, tính dục
đàn ông dồi dào. Thần thiếp lấy làm sung sướng mãn nguyện lắm”.
Ánh bảo:“Ta thấy làm lạ. Hóa ra, ngụy Toản là thằng vua liệt dương! Thật phí đời mỹ nhân cành vàng lá ngọc”.
“Toản lấy thần thiếp chỉ để ngắm nhìn,
để ngửi mùi hương. Thần thiếp như cây trầm hương bị phong bao trong lầu
son. Không! Như cây khô héo trên cánh đồng mùa hạn”.
“Ta thương nàng giường chiếu với một thằng trẻ ranh èo uột, trí đoản. Hắn đâu xứng với nàng”.
Hai người lại chìm vào biển ái ân nóng
bỏng. Đang lúc Ánh sướng quá tru lên như con ngựa hoang động đực, Ngọc
Bình rợn người, sững lại. Hai chân dài khép chặt. Người lạnh giá như
đồng. Ánh thấy lạ hỏi:
“Sao nàng rùng mình, co rút người thế?”.
“Bỗng dưng, thần thiếp ngửi thấy mùi máu tanh tưởi, mùi cháy khét của binh khí chạm nhau lẩn quất ở long sàng này”.
Ánh nghênh mũi hít ngửi.“Làm gì có! Làm gì có!”.
“Xin vương cất kín thanh gươm đang treo lủng lẳng kia đi. Thần thiếp sợ hãi lắm”.
Nửa đêm về sáng, Ngọc Bình mệt quá,
mềm oặt, nằm không động đậy, như con cá chuối chết. Ánh nhìn thân thể
ngọc ngà đang có chiều trắng bệch, xót xa, bảo:
“Có phải ta quá ham vui làm nàng mệt mỏi?”.
“Không! Tự nhiên thần thiếp thấy mình trống rỗng. Lúc đầu ân ái đam mê cuồng nhiệt bao nhiêu thì sau đó lãnh cảm bấy nhiêu”.
Ánh thở dài. Lại nghĩ: Ngọc Bình nhìn
long sàng, thuyền rồng mà nhớ nhung Quang Toản trong lúc ái ân. Đang khi
tranh tối tranh sáng, Ánh kêu quân hầu mang võng tía lên sườn núi tìm
cây giăng mắc. Ánh bế Ngọc Bình đi lên theo. Sương đêm lành lạnh bay
mỏng nhẹ như màn buông. Gió sông vẫn thổi không dứt quằn quặn. Gai
người.
Đại giám quân Lê Văn Duyệt thức khuya, mệt phờ phạc ra sức can ngăn:
“Chúa công hãy giữ mình rồng. Trước
đây bôn tẩu gặp đâu ngủ đấy, cùng đường chạy giặc cỏ thì không nói làm
gì. Nay đã có kinh kỳ Phú Xuân vàng son lộng lẫy, chúa vương nên về long
sàng mà ngủ. Sao người cứ phải vui thú dập dạ trên cỏ cây như lối bọn
thợ sơn tràng hạ dân”.
Ánh đang ẵm mỹ nhân, tức giận quá một tay quắp nàng một tay chỉ vào mặt Duyệt:
“Sao đế vương khổ thế!? Ta muốn sống
như một người dân bình thường không được ư? Chả lẽ cái việc ngủ với đàn
bà con gái mà còn phải hoãn cơn động cỡn lại chờ về nơi lầu son gác tía?
Ta là chúa vương tối cao, ta thích sang trọng sẽ được sang trọng, ta
muốn dân dã, lấm láp là được lấm láp. Ta không bằng một thợ cày sao? Đêm
nay ta muốn ngủ với nàng trên cỏ cây như một thảo dân vô học”.
Mắng xong, Ánh bế phắt mỹ nhân đi như
chạy. Bọn Lê Văn Duyệt không dám kêu can nữa. Còn vài canh về sáng, Ánh
ngả mỹ nhân ra võng. Mỹ nhân chân dài quắp chặt hông lưng Ánh như hai
con trăn. Hai tay vít chặt lưng vai Ánh, mặc cho võng bùng nhùng, dập
dềnh. Rồi võng lắc hơn bị bão gió. Lá xanh rụng tơi tả. Hai đầu dây võng
thay nhau giật cục thân cây. Có lúc hai ngọn vít vào nhau rồi bật trở
ra. Chim chóc đang ngủ ban đêm bị đánh thức bay toán loạn. Voi, gấu, hổ,
lợn lòi ở khu rừng bên cạnh vểnh tai nghe và nhăn mũi hít ngửi, động rồ
chạy đi tìm đồng loại khác giống. Cả một vùng non ngàn rộn rã bước chân
thú và tiếng kêu van vỉ gọi bạn tình, ầm ĩ như động rừng…
Sáng ra, Ánh thức dậy, ngái ngủ và mệt
bã. Các khớp xương lục cục, mỏi rã rời. Ngọc Bình nhợt nhạt, mất hồn,
thất sắc. Dị hương không còn, chỉ có mùi cỏ cây ải mục ngai ngái xông
lên. Ánh ngạc nhiên thấy dây võng đứt mà vẫn đưa chao trên mặt đất. Té
ra, nối hai đầu võng với thân cây là hai con trăn. Trăn đực, trăn cái
đều ngóc đầu nhìn Ánh thân thiện, hiền từ và nhẩn nha vặn mình đưa võng
nhè nhẹ. Ánh phát kinh nghĩ đến chuyện ma quỷ liền nhảy xuống đất, tháo
thân lên thuyền giục quan quân giong buồm về Phú Xuân.
*
Trơ trọi một mình nằm trên long sàng.
Ánh kinh hoàng ngỡ mình vừa trải qua cơn mê, bèn gọi Lê Văn Duyệt lại
hỏi. Duyệt xác nhận câu chuyện ma quỷ ấy là có thật và khuyên Nguyễn
Vương hãy vì đại sự quốc gia mà quên nàng Ngọc Bình. Ánh cũng thấy chút
bẽ bàng của bậc quân vương, gật đầu chấp thuận.
Nguyễn Văn Thành chuẩn bị chiến
thuyền, binh bộ trong cả tuần trăng cho cuộc tiến quân ra Bắc thì cũng
ngần ấy ngày Ánh sống trong ủ ê, héo rũ. Có hôm bỏ bữa quên ăn. Người
gầy đi mấy phần. Ánh không thể quên được nàng Ngọc Bình. Lúc nào cũng
cảm thấy mùi hương lạ thoang thoảng xa gần. Không chịu nổi nỗi nhớ dày
vò, Ánh lại kêu quân lính giong thuyền ngược sông Hương. Ánh leo lên
Ngọc Trản Sơn. Núi vắng teo. Điện thờ thánh mẫu Thiên Yana quạnh hiu,
không hương khói. Ánh nhìn quanh chỉ thấy những lọn tóc đen dài như con
rồng quấn trên cành cây. Ánh cảm thấy cô độc, trống rỗng vô cùng.
Về Phú Xuân, Ánh ốm liệt giường. Lúc
nào cũng chìm trong mộng mị ân ái với nàng Ngọc Bình ở Ngọc Trản Sơn.
Ánh ân hận, cứ nghĩ mình bỏ rơi nàng lại Ngọc Trản Sơn. Ngày phát lệnh
tiến quân ra Bắc đến gần mà bệnh tình của Ánh không nguôi. Việc đại sự
quốc gia có nguy cơ hỏng. Bọn Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành biết minh
chủ ốm tương tư liền kêu nhau phủ phục tận long sàng thưa:
“Ngụy Toản vẫn còn. Giang sơn chưa về
một mối. Chúa vương suốt ngày thương nhớ một con đàn bà đến ốm o, mòn
mỏi thì thần dân biết trông cậy vào ai?”.
Ánh bảo:“Người xưa nói: Anh hùng khó qua ải mỹ nhân”.
Lê Văn Duyệt lại phủ phục:
“Thưa chúa vương! Công chúa Ngọc Bình xinh đẹp sắc nước hương trời thật, nhưng lại là hoàng hậu nhà Tây Sơn, vợ kẻ thù hận”.
Ánh cả giận, mắng:
“Ta đoạt lại thiên hạ từ giặc cỏ Tây
Sơn, thì cành cây ngọn cỏ cũng thuộc về ta, huống chi là vợ Quang Toản.
Vả lại, các ngươi là anh hùng thời loạn chỉ biết hùng hục đánh nhau chém
giết, có biết yêu thương bao giờ mà hiểu được lòng ta. Các ngươi là
hạng đàn ông võ biền chỉ nghĩ đến chuyện đực cái trần tục, đâu có biết
cái thứ mùi hương kỳ lạ thanh tao tỏa ra từ ngọc thể của nàng”.
Nguyễn Văn Thành thì đỏ mặt. Đại giám
quân Lê Văn Duyệt vốn là kẻ ái nam ái nữ ngượng ngùng, bẽ bàng quá. Hai
đại thần không thể ngấm ngầm giấu mỹ nhân Ngọc Bình mãi, đành phải đưa
nàng lại bên Ánh. Ánh cả mừng. Bao nhiêu bệnh tật trong mình bay biến
hết. Ánh bảo:
“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng. Tội các
ngươi đáng chém. Ta được nàng là được thêm một “danh tướng”. Ta không
muốn được danh tướng mới thì mất danh tướng cũ. Thôi, ta tha”.
Lưỡng lự một lát rồi Ánh túm ngực áo gầm lên:“Sao các ngươi không hiểu lòng ta nhỉ?”
Bọn Thành, Duyệt ngơ ngác và bất lực, lui ra.
Suốt mấy tuần sau đó. Tiếng cười như
binh khí chạm vào nhau đêm nào cũng văng vẳng trong không trung. Đất
trời Phú Xuân sáng láng, tưng bừng. Cứ y như mùa xuân về sớm. Cây cối,
cầm thú rạo rực mùa động tình.
*
Nhiều năm trôi qua.
Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế lấy
hiệu là Gia Long, lập Ngọc Bình làm Đức phi tam cung và yêu chiều vô
cùng. Ánh sai đúc bồn tắm bằng vàng, thả những cánh hoa lan trắng cho
đức phi tắm. Lại sai người lên tận rừng rú miền tây Quảng Nam tìm hương
trầm về đặt trong cung của nàng. Và Đức phi tam cung cũng kịp đẻ cho Gia
Long hai hoàng tử và hai công chúa.
Nhưng, thật trớ trêu, Ánh càng yêu quý
đức phi Ngọc Bình bao nhiêu thì nàng lại càng thờ ơ, lạnh lùng bấy
nhiêu. Ánh không hiểu nổi, trong lòng ủ dột vô cùng.
Bỗng dưng, Ánh nhớ đến chuyện xưa từ
biệt nàng Tống Thị Lan với thoi vàng chặt đôi. Dạo ấy là mùa thu năm Quý
Mão, Ánh bị quân Tây Sơn đuổi chạy dài. Đường cùng phải phiêu dạt ra
Phú Quốc, đói khát hiểm nguy, tuyệt vọng tưởng tận số. Trước lúc sang
Xiêm La, Ánh lấy thoi vàng ra chặt vát làm đôi, đưa cho Nguyên phi một
nửa, rồi bảo:
“Nay ta phải đi Xiêm. Nàng ở lại cung
phụng quốc mẫu. Ta bôn tẩu nơi chân trời góc bể chẳng biết ngày nào gặp
lại. Đành lấy vàng này làm tin vậy”.
Nguyên phi phục xuống khóc dòng, vâng
lời. Bao nhiêu năm nàng tần tảo hầu hạ mẹ chồng và thân hành may dệt
trang phục giúp việc quân. Sau này, Ánh thu lại bờ cõi, có sum họp với
đức nguyên phi nhưng dần cũng thưa vào ra cung nàng.
Bấy giờ, đang ủ ê với nàng Ngọc Bình,
Ánh nghĩ: Mình lạt lẽo với Đức nguyên phi quá. Gắn bó với nhau lúc khốn
cùng thì chẳng có mỹ nhân nào bằng nàng. Ánh bèn bảo thái giám đưa đến
cung Nguyên phi.
“Nàng còn cầm giữ nửa thoi vàng xưa không?”.Nguyên phi cung kính dâng:
“Thần thiếp dù nhịn đói, mặc rách, chứ quyết không bội tín”.
Ánh cầm nửa thoi vàng bị nhát kiếm chặt vát ngày xưa, cảm động lắm:
“Nàng còn giữ được vàng xưa là do ân
trời đất giúp lúc khó khăn hoạn nạn. Ta không thể quên lãng. Phải để
dành vàng này cho con cháu mai sau biết”.
Nói dứt lời, Ánh lấy nửa thoi vàng
mình đang giữ, ráp với nửa thoi vàng của Nguyên phi thì vừa chằn chặn.
Rồi giao hết cho nàng cất giữ.
Đêm ấy, Ánh ở lại cung Nguyên phi. Cảm
giác ái ân vội vàng, thấp thỏm lúc chạy nạn quân Tây Sơn đuổi lại ùa
về. Ánh quên hẳn mình đang ở giữa kinh thành Phú Xuân lộng lẫy vàng son.
*
Sau này, Trần Huy Sán bất đắc chí với đời. Y có viết một chương trong Phú xuân thực lục có đoạn rằng:
Thật là trớ trêu ở đời! Nguyễn Huệ
Quang Trung chồng Ngọc Hân công chúa; Nguyễn Phúc Ánh Gia Long lại là
chồng công chúa Ngọc Bình; hai kẻ cừu địch không đội trời chung bỗng
dưng lại trở thành anh em “cột chèo”. Ta đồ rằng: Gia Long lấy Ngọc Bình
chẳng phải là yêu chiều cành vàng lá ngọc mà là núp dưới chiêu bài tâm
lý chiến bẩn thỉu để đoạt lại đến tận cùng nhà Tây Sơn, kể cả cái dị
thường hư ảo. Ánh làm chính trị thâm độc, nghiệt ngã và khôn ngoan hơn
Nguyễn Huệ…
Một đoạn khác viết:
Những năm cuối đời, Ngọc Bình sống
trong cô đơn và thất vọng. Mỗi lần ở bên Ánh, nàng không chịu đựng được
mùi binh khí lạnh lẽo va chạm vào nhau. Ta đồ rằng: 25 năm bôn tẩu, ý
chí phục tộc ngút trời cao, Ánh đã bước qua bao nhiêu xác người, xác
ngựa; đi qua bao nhiêu mộc, khiên, câu liêm, giáo, mác, gươm, kiếm…
nhuốm máu. Mùi tanh của máu người, mùi khét lẹt của binh khí va chạm tụ
lại thành mùi chết chóc ngấm vào da thịt Ánh. Vì vậy cứ mỗi lần ân ái
xong là dị hương bị hút kiệt. Không! Mùi máu tanh tưởi và mùi khét binh
khí đã lấn át trùm lấp, không cho dị hương của nàng tỏa ra.
Người xưa nói: “Nhất tướng công thành
vạn cốt khô”. Ta đồ rằng: Nguyễn Huệ Quang Trung có sống lại cưới Ngọc
Bình công chúa thì khát vọng của nàng cũng chìm trong bi kịch tuyệt
vọng y như đoạn đời nàng sống với Nguyễn Ánh Gia Long.
Nghe đồn Đức tam phi đọc được đoạn này thì gật đầu. Nước mắt chảy lã chã hai hàng đỏ như máu. Một đoạn khác Sán viết:
“Ánh là Tà hương, là âm u, lạnh lẽo,
thiên về sức mạnh độc đoán. Ngọc Bình là Dị hương, là mùi thơm vừa trần
tục vừa thanh tao, dịu dàng mà quý phái, cuồng dại mà thanh bình…chỉ hợp
với Sán này”.
Có kẻ bên cung Nguyên phi ghen ghét
Sán, trộm được Phú Xuân thực lục bèn dâng lên Nguyễn Ánh Gia Long. Ánh
nghĩ: Té ra dị hương chưa bao giờ thuộc về mình mà lại thuộc về Sán. Có
lẽ cái yếm thắm như một trò ma thuật. Y lại còn dám rủa ta là tà hương.
Ánh cho gọi Sán đến, mắng:“Rút cuộc, ngươi cũng là loại phù thủy chọc gậy vào bánh xe”.
Sán bảo:
“Hạ thần chưa một lần xảo trá, luôn nghĩ và nói đúng sự thật”.
Ánh rút gươm khều lấy cái yếm thắm trong túi Sán, rồi mắng tiếp:
“Không những ngươi ám ta mà còn giở trò ma thuật để hút hồn đàn bà con gái đẹp”.
Sán im lặng trơ lì như đá.
“Lại còn cao ngạo nữa. Coi trời bằng vung. Tội ngươi thực đáng chém đầu”.
Sán vươn cổ cò ra như thách thức.
Một chớp sáng ngoằng như sét đánh giữa
trời quang mây tạnh. Lần này, Ánh chém thật. Cái “chõ xôi” lăn lông
lốc, rồi dừng lại, mắt Sán hấp háy, miệng nhếch mép cười cợt. Bỗng dưng,
mùi dị hương ở đâu đó dào dạt xông lên rồi, mất hẳn. Về sau, có kẻ phán
bừa rằng: dị hương ở yếm thắm đã tẩm hết vào người Sán. Khoảnh khắc đầu
lìa khỏi cổ, chút dị hương còm ấy rút ra kết vón lại theo hồn vía Sán
thăng thiên.
*
Đêm ấy, lòng dạ Ánh bồn chồn không yên.
Trăng hạ tuần đã gác mái điện Cần Chánh, Ánh vẫn không ngủ được. Ánh bảo thái giám đưa mình đến cung Đức tam phi Ngọc Bình.
Mỹ nhân đang tắm trong đêm khuya
khoắt. Nàng ngập mình trong bồn vàng ngập nước thả đầy cánh hoa lan bé
mỏng manh trắng muốt. Dị hương lãng đãng xa gần, quyến rũ vô cùng. Lòng
Ánh nôn nao, không chịu nổi mùi gợi dục, vội vã cuống cuồng. Ánh hấp tấp
y như chàng trai mười sáu tuổi lần đầu nhìn thấy thân thể người đẹp
trắng nuột nà, nhào vào bồn tắm, làm nước tràn ra quá nửa. Nguyễn Ánh và
mỹ nhân quấn lấy nhau như đôi thanh long giao phối đêm mưa bão. Từng
chập từng chập nước sóng sánh tràn ra ngoài. Chỉ một lúc dập dềnh, nước
dạt ra ngoài bồn tắm gần hết. Bao nhiêu cánh lan trắng nát bấy dính vào
bồn tắm, nổi trên mặt nước thơm rập rờn bên da thịt mỹ nhân.
“Thưa Chúa thượng! Người cầm cái chi trong tay, cứ chạm vào da thịt thần thiếp nóng hổi?”.
Ánh đang ôm cổ mỹ nhân, vội bỏ tay ra, quơ quơ trước mặt nàng cái vật màu đỏ sũng nước lập lòe như đốm lửa.
“Cái yếm thắm của nàng. Ta chém đứt cổ cò thằng khốn ấy rồi”.
Trần Huy Sán đã chết!? Đức phi Ngọc
Bình cảm thấy như tắc thở bởi mùi máu tanh tưởi và khét lạnh rợn ngợp
của binh khí chạm vào nhau. Nàng rùng mình. Gân cơ co rút lại. Người
thẳng đơ, cứng ngắc. Rồi thân thể ngọc ngà từ từ lạnh ngắt. Mỹ nhân đột
tử ngay dưới bụng Nguyễn Ánh.
Lúc bọn thái giám vào, thấy Ánh đã
khoác hờ tấm hoàng bào, ngồi bệt xuống sàn, thả một tay vào bồn tắm. Mặt
ngơ ngác như người mất hồn vía. Hai mắt Đức phi tam cung nhắm hờ như
ngủ. Tóc mây xõa lập lờ trong nước. Hai đùi dài khép sát. Thân thể đã
mềm mại và trắng hồng trở lại. Thần sắc đã hồi. Văng vẳng đâu đó như có
câu ca vọng vào tam cung:
“Gái đâu có gái lạ đờiCon vua lại lấy hai vua làm chồng”.
Cái yếm đỏ vụt bay khỏi tay Ánh lượn những đường ngoằn nghèo như hương khói.
Tháng 8. 2009
S.N.M
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét